• Editorial Board

Tu luyện trước và sau 20/7/1999 có gì khác biệt?

Đã cập nhật: 5 Th08 2019

[15/07/2019] CỔ ĐẠO


Bối cảnh:


Pháp Luân Đại Pháp được phát triển tại Trung Quốc từ năm 1992, bắt đầu trong giai đoạn từ 1996-1998 thì đã xuất hiện nhiều hiện tượng can nhiễu của phía chính quyền ĐCSTQ, tuy nhiên về tình thế chung thì không gây quá nhiều ảnh hưởng mà chỉ dừng lại ở góc độ sách nhiễu, kiểm tra, giám sát là chính. Sau một vài sự kiện như ngày 25/4/1999 thì phải đến ngày 20/7/1999 thì mới thực sự hành vi của ĐCSTQ đối với Pháp Luân Đại Pháp mới được đẩy lên đến tầm bức hại với quy mô lớn toàn quốc và sau đó lan ra toàn thế giới. Vì cuộc bức hại đã xảy ra với nhiều thủ đoạn chụp mũ, vu khống, điển hình nhất là vụ ĐCSTQ dàn dựng trường hợp tự thiêu tại Quảng trường Thiên An Môn để lấy cớ tiến hành bức hại học viên Pháp Luân Công, ngoài ra còn phải kể đến tần suất dày đặc truyền thông dối trá mạ lị Pháp Luân Đại Pháp khiến không chỉ người dân trong Trung Quốc Đại Lục mà cả người dân tại các quốc gia khác trên thế giới cũng bị tạo ra cái nhìn sai lệch về Pháp Luân Công.


Do đến trước khi Chính Pháp kết thúc, nếu một người mà trong tư tưởng có cái nhìn không tốt đối với Đại Pháp, dẫu cho có là họ bị lừa hay thực sự nghĩ xấu một cách có chủ đích thì rất có khả năng là họ sẽ gặp phải chuyện rắc rối. Bởi Cựu Thế Lực không quan tâm người dân (không tính người tu) có bị lừa hay không, cứ trong đầu có tư tưởng không tốt thì ghi sổ chờ kết toán. Sư Phụ đã giảng học viên chúng ta cần giảng rõ sự thật, tôi thể ngộ nông cạn là để họ - người dân hiểu sai về Đại Pháp, có thể minh bạch ra sự thật, từ đó có cái nhìn khách quan và tích cực về Đại Pháp, từ đó có thể tiến vào giai đoạn mới.


Đã là như vậy, thì vấn đề tu trong thời kỳ Chính Pháp tôi nghĩ là không còn gói gọn trong phạm vi tu của một cá nhân đơn lẻ nữa. Nó đã trở nên phức tạp hơn nhiều, vì nó đã có sự can dự vào của Cựu Thế Lực. Việc cứu người này là rất quan trọng, tôi thể ngộ là nó không chỉ ảnh hưởng đến kết cấu của vũ trụ mới mà còn ảnh hưởng đến cả giai đoạn sau Chính Pháp.


NỘI DUNG:


1. Đặc điểm chung của giai đoạn trước 20/7/1999


Quay trở lại giai đoạn tu luyện trước ngày 20/7/1999. Giai đoạn đó phần lớn là nói về học viên tại Trung Quốc Đại Lục, thời kỳ này không có những việc như là giảng chân tướng, làm những kênh truyền thông, hạng mục v..v, cũng không có việc phải phát chính niệm mà đơn thuần các học viên chỉ cần chú ý đến học Pháp, luyện công và tu tâm tính, ngoài ra thì góp sức hỗ trợ điểm luyện công và hồng Pháp trong phạm vi có thể của bản thân.


Một số học viên họ thậm chí chỉ để tâm đến tu cá nhân, không quan tâm đến các hoạt động Đại Pháp, nói thẳng là họ chỉ quản tu bản thân họ - nếu điều này xảy ra trong giai đoạn trước 20/7/1999, tôi nghĩ có khi lại rất được khuyến khích. Nhưng, có lẽ nó chỉ đúng trong giai đoạn đặc thù đó mà thôi.


Tôi có thể ngộ rằng các học viên tại Trung Quốc sở dĩ được một khoảng thời gian tu luyện cá nhân khoảng 7 năm và thậm chí còn được đích thân Sư Phụ truyền Pháp trực tiếp như vậy, yêu cầu về tu luyện đề cao cũng dễ thở hơn nhiều so với giai đoạn sau 20/7/1999 – đó là vì họ phải xây dựng được một cơ sở vững chắc về tu luyện để có thể thực thi được trách nhiệm cứu người khi cuộc bức hại diễn ra về sau.

Do đó, tôi thể ngộ rằng các học viên bên Trung Quốc họ mới được tạo nhiều điều kiện, ưu đãi hơn so với giai đoạn hiện nay khi tu trước 20/7/1999 như vậy, họ chỉ cần lo tu bản thân cho tốt, và không phải làm các việc đặc thù gì. Họ phải tu bản thân vững chắc thì khi tiến vào tu trong thời Chính Pháp thì mới ít bị Cựu Thế Lực đâm ngang. Nhưng thực tế cho thấy, kể cả có được Sư Phụ tạo điều kiện lớn như thế, rất nhiều học viên tại Trung Quốc lại không biết tận dụng và tranh thủ giai đoạn lịch sử đó. Thế nên khi cuộc đàn áp xảy ra, rất nhiều đã bị bức hại, có người bị dùi vào sơ hở đến mức mất mạng, có người tự mãn cao dẫn đến tự tâm sinh ma và lôi kéo rất nhiều học viên theo họ, có người thậm chí còn quay sang dung dưỡng cho những thành phần phá hoại trong nội bộ - mặc dù trong Pháp trước đó Sư Phụ đã giảng rất rõ cách nhận biết. Ở đây là một số ví dụ (Link) đã và đang xảy ra bên Trung Quốc từ sau ngày 20/7/1999.


2. Đặc điểm chung của giai đoạn sau 20/7/1999


Sau khi cuộc bức hại chính thức bắt đầu, Sư Phụ đã yêu cầu học viên chúng ta phải làm tốt 3 việc, tôi hiểu là: (1) Học Pháp, (2) Phát Chính niệm, (3) Giảng rõ sự thật. Như vậy, so với thời kỳ tu trước 20/7/1999 là đã có sự khác biệt rất lớn. Thay vì chỉ tập trung vào học Pháp tu bản thân cho tốt (tất nhiên tôi thể ngộ là vẫn phải luyện công nữa), học viên cần phải làm thêm 2 việc chính nữa, đó là Phát chính niệm và Giảng rõ sự thật.


Nói về Phát chính niệm, tôi chỉ xin trao đổi sơ qua một chút thể ngộ của tôi về vấn đề này, đó là: Biết về Phát chính niệm chỉ là điều kiện cần, nhưng sử dụng Phát chính niệm ra sao cho đúng, cho chính thì mới là điều kiện đủ. Nếu mới tu chưa lâu và còn chưa hiểu tu luyện là gì mà đã phát thì tôi e là họ không khởi được mấy tác dụng; hoặc tùy tiện áp dụng việc làm này cho những mục đích sai trái hoặc bị lừa sử dụng cho những mục đích sai trái, như là cổ xúy Phát chính niệm cho hành vi vi phạm pháp luật, phá hoại Đại Pháp như in lậu sách Đại Pháp hay bán vé khống Shenyun phi pháp v..v thì hậu quả là rất nguy hiểm, nguy hiểm đến chính sinh mạng của họ. Nó không phải chỉ giống như tu cá nhân vấp ngã rồi lại vựng dậy bò lên đơn thuần đâu.


Lời kêu gọi phát chính niệm hỗ trợ hệ thống in lậu sách Đại Pháp, câu hỏi đặt ra là phát chính niệm cho một hành vi sai trái với Pháp, cụ thể là vi phạm những gì mà Sư Phụ giảng trong Phụ Lục IV của Đại Viên Mãn Pháp thì liệu có khởi được tác dụng?

Tôi nhớ về việc Phát chính niệm này đã được Sư Phụ trong bài Giảng Pháp tại Pháp hội Canada năm 2001 (Link) có nói rõ (đại ý, không nguyên văn) rằng nếu học viên dùng để làm việc mà người tu luyện chẳng nên làm, thì không có tác dụng; niệm đầu vừa xuất hiện liền bị báo ứng hoặc bị rớt xuống tầng. Học viên nếu không suy xét kỹ, tùy tiện nghe kêu gọi rồi phát thì rất có thể sẽ tự chuốc lấy họa, bị đánh rớt tầng thứ vì lý do không đâu. Do đó, nhất là học viên mới thì tôi nghĩ trước tiên nên tập trung tu bản thân cho tốt, hiểu tu luyện là gì, tìm hiểu và nắm rõ những yêu cầu trong Pháp mà Sư Phụ giảng, nắm rõ những gì đã và đang diễn ra tại môi trường tu luyện ở Việt Nam đã rồi hẵng tìm hiểu về Phát chính niệm. Làm đúng thì không nói, nhưng làm sai thì khá là nguy hiểm đó.


Vì phát chính niệm cho hành vi sai trái, không chỉ là đơn giản là bị trừng phạt hoặc bị đánh hạ tầng thứ là xong (thế vẫn còn là nhẹ), mà bất kể là có bị lừa hay không thì Cựu Thế Lực vẫn xếp học viên Phát chính niệm hỗ trợ với các thành phần làm sai với yêu cầu của Pháp kia là chung một nhóm, là ủng hộ cho hành vi phá hoại Pháp. Nên khi Cựu Thế Lực tất toán và hạ độc thủ với những kẻ cầm đầu khi hết giá trị lợi dụng, thì học viên tham gia Phát chính niệm ủng hộ cũng khó mà thoát kiếp. Giống như người thường bị ĐCSTQ Trung Quốc lừa dối mà bài xích Đại Pháp thì dù có là bị lừa cũng vẫn bị Cựu Thế Lực xếp chung vào lô bị đào thải, trừ phi họ hiểu chân tướng, minh bạch sự thật và công khai lên tiếng ủng hộ Đại Pháp - với học viên thì phải làm nghiêm chính thanh minh rõ là họ bị lừa và không thực sự hữu ý ủng hộ những hành vi sai trái đó. Đây chính là một trong những điểm khác biệt của thời kỳ sau 20/7/1999 với trước 20/7/1999. Nó vốn phức tạp và nguy hiểm hơn rất nhiều so với thời kỳ tu cá nhân vốn đơn thuần như thời kỳ trước 20/7/1999.


Nói về giảng rõ sự thật – tôi hiểu là phải làm cho một người nhận thấy được Pháp Luân Đại Pháp là tốt, tức là phải giải thích, giải khai, bằng nhiều phương thức khiến cho họ từ hiểu lầm, hiểu sai mà dần dần thấy được bản chất của vấn đề. Nhân tố khiến họ có tư tưởng không hay về Đại Pháp chủ yếu có thể bắt nguồn từ:


1. Tuyên truyền dối trá của ĐCSTQ và các tổ chức liên đới

2. Các hành vi phá hoại trong nội bộ của học viên


Như đã nói ở trên, giảng rõ sự thật thì tôi hiểu là có thể qua rất nhiều phương thức, nhiều kênh chứ không phải cứ mặc định phải cố thủ một phương thức nào đó (như là phát tờ rơi). Việc lựa chọn phương thức cần phải cân nhắc dựa trên:


1. Hoàn cảnh của quốc gia, về thể chế chính trị, văn hóa, pháp luật v..v

2. Năng lực và hoàn cảnh của học viên


Chúng ta cần phải vận dụng trí huệ để giảng rõ sự thật, nên rõ ràng chúng ta phải ý thức và cân nhắc phương thức chứng thực Pháp sao cho phù hợp. Mục đích chính là để chính quyền và người dân hạn chế gặp phải những phiền hà, hiểu lầm khi tiếp xúc với hoạt động chứng thực Pháp, giảng rõ sự thật của học viên. Sở dĩ chúng ta phải làm rất nghiêm túc chuyện này vì chúng ta đến đây là để cứu họ, cần phải nghĩ cách làm sao để tăng tính hiệu quả trong việc lý giải của họ cũng như giảm thiểu tối đa những hiệu ứng sai lệch, nếu không thì còn gọi gì là cứu người? Làm tốt thì không nói, nếu một học viên nào đó mà vì tu không tốt, cực đoan, không lý trí mà làm sai rồi gây hậu quả khiến người dân và chính quyền phản cảm với Đại Pháp thì học viên đó nên tự tập xác định đi là vừa.


Lấy ví dụ: Ngay như khi chúng ta được phân công giảng dạy cho một nhóm người, thì đến người thường họ còn phải đi học nghiệp vụ Sư Phạm, phải qua thẩm định của hội đồng nhà trường và thậm chỉ còn phải dạy thử vài buổi để kiểm tra tính hiệu quả của giảng dạy. Hiện nay, giảng viên còn phải cố gắng vận dụng nhiều cách thức sao cho học viên/học sinh dễ tiếp cận được thông tin từ bài giảng hơn thay vì cách giảng dạy "thầy đọc trò chép" như trước kia. Tức là việc giảng dạy đó là HƯỚNG ĐỐI TƯỢNG – là căn cứ vào người học, tìm ra đặc điểm, tìm ra sở thích, tìm ra nhu cầu của họ mà từ đó định ra phương pháp giảng dạy sao cho phù hợp.


Ví dụ về trường hợp cụ thể tại Việt Nam


Lấy ví dụ ở Việt Nam, thì hỏi lựa chọn phương thức nào để chứng thực Pháp và làm rõ sự thật?


Đầu tiên, chúng ta cần phải cân nhắc rõ rằng Việt Nam cũng là một quốc gia Cộng sản, lại ngay sát về địa lý với Trung Cộng, là một nước nhỏ, chịu phụ thuộc vào kinh tế và đương nhiên sẽ chịu nhiều sức ép từ phía Trung Cộng. Cho nên ở Việt Nam nếu chúng ta lựa chọn những phương thức mở cờ gióng trống, làm mạnh như ở các quốc gia Tây Phương hay Đài Loan, Úc, Nhật Bản v..v như phát tờ rơi, Thiên Quốc Nhạc Đoàn v..v thì nó không khác gì “giễu cợt” Trung Cộng. Hỏi Trung Cộng có biết những hoạt động đó của học viên đang diễn ra ở Việt Nam nếu giả sử điều đó xảy ra? Rõ ràng là có, tất nhiên là phần lớn có thể thông qua kênh tình báo, mà việc Trung Cộng cài tình báo (thường biết dưới cái tên tình báo Hoa Nam) vào Việt Nam để theo dõi về kinh tế, chính trị là chuyện đã có từ rất lâu, thậm chí còn trước cả thời kỳ bức hại học viên bên Trung Quốc.


Như vậy, khi cuộc bức hại xảy ra, học viên tại Việt Nam cứ làm mạnh thì có thoát khỏi con mắt của tình báo Trung Cộng? Nói một cách thẳng thắn, tình báo Trung Cộng họ có lẽ phải nắm gần hết các hoạt động của học viên (kể cả việc tổ chức Pháp hội kín) thông qua liên kết với phía an ninh Việt Nam. Điều đó là chuyện rất dễ dàng, chỉ cần làm một công hàm đề nghị thông tin liên kết công an 2 nước dưới những cái tên như là “Nâng cao an ninh quốc gia”, “Phối hợp vì sự nghiệp an ninh hai nước” v..v.


Thêm nữa, rất nhiều tình báo Hoa Nam sành sỏi tiếng Việt, thậm chí còn đã sinh sống tại Việt Nam mấy chục năm là chuyện bình thường - vì nếu họ không sành mấy thứ đó thì tuyển họ làm tình báo làm gì? Họ không những phải sành tiếng Việt để giao tiếp và thu thập tin tức mà họ còn phải sống không khác gì người bản địa, tên họ cũng chuyển đổi sao cho na ná giống người bản địa, nắm rất rõ văn hóa/phong tục/tập quán người bản địa chứ không phải đơn giản. Họ thậm chí có thể tự cài mình vào cộng đồng học viên để theo dõi, leo lên vị trí cao trong các hạng mục cũng là điều không quá khó khăn. Học viên thậm chí có thể vẫn tưởng rằng họ là người Việt, nhưng có thể sự thật là không hẳn vậy. Họ thậm chí còn có thể âm thầm mua chuộc một số học viên mà biến chất làm công cụ cho họ. Tôi có biết ở Mỹ, khi sinh viên Trung Quốc đi du học, thì thường phải ra trình diện ở Đại Sứ Quán, nếu sinh viên đó là học viên thì có thể sẽ bị mua chuộc làm tình báo với cái giá là sẽ được chi trả toàn bộ tiền học phí trong suốt thời gian du học. (tham khảo bài viết sau)


Ở đây tôi không nói chuyện hoang tưởng, vì bất kỳ ai cũng có thể tham gia vào tu luyện Đại Pháp, thì tất nhiên cũng sẽ bao gồm cả an ninh Việt Nam và tình báo Hoa Nam; Họ đôi khi không cần trực tiếp tham gia, mà chỉ cần đứng sau chỉ đạo một số học viên vẻ ngoài tinh tấn nhưng thực ra là bên trong đã biến chất làm việc cho họ. Không chỉ ở Việt Nam, mà trên bình diện quốc tế cũng có thể xảy ra. Có một ví dụ khá điển hình về vấn đề này, học viên có thể tham khảo (Link). Những hiện tượng lên danh sách, ghi danh, thu thập thông tin học viên (như thường thấy ở hệ thống Phụ Đạo Viên, Liên Lạc Viên, hay qua các lớp 9 ngày, Tour đi Pháp hội, Unseen v..v) dù với cái lý do nào thì cũng rất có thể chính là phương thức thu thập thông tin học viên bên Việt Nam của đặc vụ/tình báo Hoa Nam (vốn đang nằm vùng trong học viên). Một số học viên ở cấp dưới (như là công tác ngoài điểm luyện công) bị chỉ đạo làm có thể không ý thức ra, vì mục đích thực sự của việc ghi danh chỉ có một số nhân vật ở cấp cao mới biết rõ.


Thứ hai, liệu Trung Cộng có giương mắt để học viên Việt Nam làm mạnh các hoạt động chứng thực Pháp? Đương nhiên là không. Và việc gây sức ép tới chính quyền Việt Nam để có biện pháp với học viên là chuyện không quá khó để nhận ra. Tư tưởng của chính quyền Việt Nam cũng không muốn để học viên Pháp Luân Công phát triển quá mạnh vì nó là thuộc về đặc tính của chế độ. Do đó, học viên muốn đăng ký thành lập những tổ chức Pháp nhân như Phật Học Hội, tổ chức diễu hành như Thiên Quốc Nhạc Đoàn, đăng ký xin giấy phép xuất bản sách Đại Pháp v..v là điều bất khả thi. Giả sử nếu chính quyền Việt Nam mà thực sự cấp phép thì ắt sẽ bị phía Trung Cộng “mời” lãnh đạo sang làm việc. Bản thân Chính quyền Việt Nam cũng không muốn bị sa lầy giống như Trung Cộng vì tự ý thức tiềm lực kinh tế còn đang gặp rất nhiều vấn đề, cũng không thể kiềm tỏa internet được như Trung Cộng nên nếu lựa chọn cách làm là đàn áp như Trung Cộng là tự hại mình. Do đó, lựa chọn cách “đu dây” là hợp lý. Tức là một mặt hạn chế không để Pháp Luân Công phát triển (để còn báo cáo lại với Trung Cộng), một mặt vẫn mắt nhắm mắt mở để các học viên hoạt động (để không bị mang tiếng là đàn áp giống Trung Cộng).

Tuy nhiên, chính quyền tại Việt Nam vẫn có thể ra tay với học viên, nếu bản thân các học viên tạo ra sơ hở để họ có thể ra tay. Đó là gì? Vi phạm pháp luật, tuyên truyền những điều siêu thường, phát tài liệu không có giấy phép, in sách lậu, tuyên truyền chống chính quyền v..v. Họ không cần đàn áp công khai, mà chỉ cần dựa vào những hành vi trên của học viên rồi tuyên truyền là đủ để học viên “ăn hành”. Vì rõ ràng hành vi của học viên như kể trên là không hợp lý, đến ngay chính học viên như tôi cũng không chấp nhận nổi nữa huống là chính quyền và người thường? Khi mà những hành vi đó mà được truyền bá rộng khắp xã hội, thì hỏi còn chứng thực Pháp và giảng rõ sự thật ra sao?



Nguồn bài viết: Link Facebook


Thực ra, Trung Cộng cũng không cần thiết phải ngăn cấm học viên tại Việt Nam phát tờ rơi, thậm chí họ có thể còn cử đặc vụ ở trong cộng đồng kích động học viên phát càng nhiều tờ rơi càng tốt - nhưng tờ rơi đó lại có xu hướng nhắm vào ĐCSVN hoặc thường phát kèm Cửu Bình - Nếu làm ở quốc gia như Mỹ thì có thể không sao, nhưng làm tại Việt Nam thì đó mới là vấn đề, chính là kế "gắp lửa bỏ tay người", "dùng người Việt trị người Việt" - dụ học viên tự bức hại chính mình của đặc vụ Trung Cộng. Học viên mà không lý trí, rồi nghe dụ dỗ kích động mà cũng xông vào làm thì hậu quả là rất nghiêm trọng.





Nếu chúng ta ngay chính, không làm gì sai mà bị quy chụp thì việc giảng rõ sự thật không thành vấn đề. Nhưng nếu chính chúng ta làm sai, gây hiểu lầm với chính quyền, vi phạm pháp luật, làm những việc không nên làm thì lúc đó còn thanh minh gì đây? Đó chính là học viên chúng ta tự khởi tác dụng bức hại chính mình và tổn hại thanh danh Đại Pháp, chính quyền họ đâu có chủ động làm nếu học viên không vi phạm? Sự việc của Phạm Thị Thiên Hà như vừa qua nó mới chỉ là phần nổi của tảng băng chìm trong cộng đồng học viên hiện nay mà thôi, còn nhiều việc trời ơi đất hỡi khác, chỉ là học viên cố giấu kín không để lộ ra nên chúng ta vẫn tưởng trường hợp của Phạm Thị Thiên Hà là hy hữu, thực tế thì nó còn rất nhiều, chỉ là chưa đến mức bị lên báo như Thiên Hà mà thôi.


Tôi chỉ nói điển hình đến một trường hợp là Long Giang hồ, tự xưng là học viên nhưng làm 2 học viên nữ có thai, nhưng không có trách nhiệm nuôi con mà còn dọa tưới xăng thiêu sống một người và cầm dao dọa giết một người. Đã không biết sai mà còn đi làm đám cưới với một nữ học viên khác. Ấy thế mà học viên chúng ta, nhất là bên Đại Kỷ Nguyên và Thái Quang Vinh khi biết về Long như vậy mà vẫn đi viết bài lăng xê Long trên các kênh truyền thông của học viên (ví dụ 01 | ví dụ 02).



Khi sự thật về Long được phơi bày ra thì học viên chúng ta rất nhiều vẫn cố tình lờ đi, bưng bít và còn cho rằng “vì Long cứu được nhiều người nên giờ phơi Long ra thì họ sẽ không được cứu”? Hỏi người ta nhận thức Đại Pháp là Tốt chẳng lẽ chi qua mỗi mình Long? Long có phải đại diện của Đại Pháp đâu mà nói những người Long giảng chân tướng sẽ không được cứu? Nếu giờ mà giả sử Long bị lên báo như Phạm Thị Thiên Hà thì hỏi họ có còn nói như vậy được hay không? Hay là lại theo mô-típ cũ là bảo Long làm sai môn quy nên không thể coi Long là học viên như trường hợp của Thiên Hà? Vậy biết Long làm sai môn quy thế thì sao giờ không phơi Long ra? Có phải chính các học viên đang mâu thuẫn hay không?


Quay trở lại vấn đề về cách thức chứng thực Pháp nào là phù hợp ở Việt Nam, thì rõ ràng làm sao để không gây chú ý, âm thầm lặng lẽ mà làm thì là hợp lý nhất. Vừa không khiến chính quyền buộc phải ra tay, vừa khiến học viên có hoàn cảnh ổn định mà tu luyện và chứng thực Pháp. Theo quan điểm của tôi, cách tốt nhất đó chính là TÂM TRUYỀN TÂM, NGƯỜI TRUYỀN NGƯỜI. Vì có nhiều cách để giảng rõ sự thật, và truyền miệng cũng là một cách như vậy (chứ không nhất thiết phải phát tờ rơi - cách làm này nhiều khi không hợp với hoàn cảnh ở Việt Nam), nó vừa không gây chú ý, không vi phạm pháp luật cũng không tốn tài nguyên gì của học viên. Mà ở Việt Nam, nếu học viên tu tốt, mà khiến người xung quanh nhìn nhận tốt về Đại Pháp qua các cách hành xử đời thường thì hiệu quả trong xã hội còn lớn nữa, ví như khi người thân chúng ta đi đâu gặp bạn bè họ nói rằng chúng ta nhờ tu Đại Pháp mà trở thành người tốt, cải thiện sức khỏe v..v thì chẳng phải là đã và đang khiến nhiều người hơn biết được Đại Pháp là tốt? Cách thức quảng bá truyền miệng đó vừa không tốn tiền quảng cáo, vừa không gây phản cảm, gây chú ý của chính quyền mà lại dễ đi vào lòng người.


Học viên không cần phải nói quá nhiều về Đại Pháp tốt ra sao, bị bức hại như thế nào, hay dùng mọi cách giật gân để lôi kéo người ta vào tu luyện. Người xung quanh đơn giản chỉ cần biết học viên tu Đại Pháp, và tự đề cao cá nhân trong thực tu, khi người xung quanh dần nhìn nhận thấy học viên đổi thay tốt lên từ việc tu luyện, người ta tự khắc nhìn nhận Đại Pháp là tốt, việc giảng chân tướng sau đó rất dễ, có thể dẫn vài ví dụ về Biển Đông, về kiểm duyệt thông tin của Trung Cộng v..v là người Việt nói chung có thể dễ dàng nhìn ra bản chất lưu manh của Trung Cộng. Đây có lẽ là cách thức ổn định nhất, chậm và chắc nhất tại hoàn cảnh nước ta.


Làm như thế này thì đặc vụ Trung Cộng có muốn phá cũng rất khó vì không thể túm kẻ "không có tóc". Chúng muốn điều khiển được học viên thì phải tổ chức một cơ cấu hữu hình để nắm và kiểm soát thông tin về từng học viên cả nước, tất nhiên chúng vẫn có thể sử dụng các lý do như là "phối hợp chỉnh thể" để ngụy trang. Chúng muốn phá được môi trường tại Việt Nam thì chúng phải khiến cộng đồng học viên "mọc tóc" bằng cách kích động/nhồi sọ học viên thông qua các kênh thông tin mà chúng dựng ra từ trước để rồi tạo ra những hoạt động mở cờ gióng trống, hữu hình, gây chú ý thì mới dễ bề khiến chính quyền tại Việt Nam bắt thóp túm tóc. Điển hình nhất gần đây là việc chính quyền bắt giữ 2 tụ điểm in lậu sách Đại Pháp ở Sài Gòn, thông tin đã được phía chính quyền cho lên báo. Tôi chỉ đưa ra câu hỏi: Người kích phát học viên in lậu có hệ thống đến mức chính quyền có cớ để ra tay đó có phải học viên? Tất nhiên cũng không phải sức một người mà làm được đâu. Họ còn dám bịa đặt lời Sư Phụ cho phép in lậu thì khẳng định là có vấn đề đấy.




Các hạng mục khác như Thiên Quốc Nhạc Đoàn, Shen Yun, Truyền thông Đại Kỷ Nguyên, Tân Đường Nhân v..v thì rốt cuộc cũng chẳng phải mục đích cuối cùng là để khiến người dân nghĩ tốt về Đại Pháp, qua đó cũng nhận rõ sự lừa dối từ phía ĐCSTQ? Vậy cách thức Tâm truyền tâm, người truyền người đó tuy âm thầm không phô trương, không làm mạnh hay hào nhoáng ở bề mặt nhưng nó chẳng phải cũng khởi tác dụng tương tự? Thậm chí chính phương thức đơn giản này vốn đã khiến cho khoảng 100 triệu người bên Trung Quốc bước vào tu luyện Đại Pháp chỉ trong vòng có 7 năm từ 1992-1999 đó thôi.


Sở dĩ cách thức Tâm truyền tâm, người truyền người được tôi lựa chọn là bởi nó phù hợp với hoàn cảnh đặc thù ở Việt Nam, cách làm này vừa khiến học viên ổn định hoàn cảnh tu luyện ngay tại nơi mình sinh sống. Học viên vẫn đi học, đi làm bình thường, kiên trì mưa dầm thấm lâu khởi tác dụng tốt đẹp với chính những người thân quanh mình và mặt khác, nó cũng không có sơ hở để đặc vụ Trung Cộng hay chính quyền có cớ để dùi vào. Vì học viên không có tổ chức, không có hoạt động hữu hình, không có lập hội gì mà là từng cá nhân tại hoàn cảnh sinh sống của chính mình mà tự lý trí trong chứng thực Pháp, nghiêm khắc tuân thủ pháp luật v..v theo tôi thấy đây chẳng phải là đi theo con đường Đại Đạo Vô Hình là gì?


3. Về một số sự khác biệt của giai đoạn Chính Pháp với giai đoạn trước 20/7/1999


Điểm khó khăn trong giai đoạn tu luyện sau 20/7/1999 đó là chúng ta không chỉ phải đối mặt với cuộc bức hại bên ngoài từ ĐCSTQ mà còn phải giải quyết các trường hợp được an bài vào phá hoại trong nội bộ với số lượng rất nhiều; Giai đoạn trước 20/7/1999 thì ĐCSTQ chưa bức hại, phá hoại trong nội bộ thì cũng chưa nhiều. Muốn biết trong nội bộ có người vào phá hoại hay không thì cần xem họ có làm đúng lời Sư Phụ giảng hay không?


Xét chung ở cả 2 giai đoạn - Ít nhất, họ phải tuân thủ đúng những gì Sư Phụ đã giảng trong Phụ Lục IV của Đại Viên Mãn Pháp, đại ý là phải nghiêm khắc tuân thủ chính sách pháp luật quốc gia và không được tham gia đấu tranh chính trị.


Nếu xét riêng ở giai đoạn sau 20/7/1999 thì còn là về vấn đề tài chính, Sư Phụ có giảng rõ đại ý là phải minh bạch ngay từ khi bắt đầu làm hạng mục nếu không thì đừng làm - vì tôi thể ngộ rằng chỉ cần chi sai một đồng, sử dụng không đúng mục đích dù chỉ một đồng thôi cũng rất nguy hiểm vì Cựu Thế Lực sẽ dùi vào cái cớ là học viên dùng tài nguyên Đại Pháp vào tư lợi cá nhân, là người tu Đại Pháp thì vốn đã phải xem nhẹ tư lợi cá nhân mà vẫn phạm thì là tội rất nặng, học viên sẽ bị Cựu Thế Lực bức hại dưới nhiều dạng thức như làm ăn thua lỗ, nghiệp bệnh v..v.


Ngoài ra, không được quyên tiền gây quỹ trong học viên dưới bất kể hình thức nào. Thậm chí chính Ban Biên Tập Minh Huệ tiếng Trung (do Sư Phụ quản) còn khuyến khích học viên vạch mặt các thành phần dám thu tiền trong học viên này ra ánh sáng. Do đó, tôi hiểu rằng việc nhiều học viên tại Việt Nam dám đứng ra phơi bày cái sai trong cộng đồng là hành vi đúng đắn. (Thực tế là, ở Việt Nam thì hành vi thu tiền bất chính này hiện nay xuất hiện không ít - Ví dụ: Link)


Nguồn: Minh Huệ Net (tiếng Trung, bản tiếng Việt là do Minh Huệ Việt Ngữ dịch lại)


Một ví dụ điển hình về hành vi quyên tiền để cho học viên khác đi giảng chân tướng, vốn là hoàn toàn sai với yêu cầu của Minh Huệ tiếng Trung (do Sư Phụ quản)

Nguồn: Facebook Hoa Hướng Dương


Nói sơ qua về cách thức cử người đi vân du tứ xứ các nơi để giảng chân tướng của Đại Kỷ Nguyên Việt Nam (do Vũ Đức Trung điều hành), cách làm này rất giống theo định hướng của Phạm Xuân Giao trước đây vốn đã bị Phật Học Hội chỉ đích danh là phá hoại.


Phật Học Hội đã từng chỉ đích danh hành vi lôi kéo học viên từ bỏ công tác, ly khai gia đình đi các nơi chứng thực Pháp, rồi ăn ở là dựa vào chi trì của học viên (quyên góp tiền giống cái cách Thái Quang Vinh gom tiền cho Long giang hồ và rất giống với định hướng của Đại Kỷ Nguyên Việt Nam)

Nguồn: Minh Huệ Net


Câu hỏi đặt ra là: Liệu mầm mống giống như Phạm Xuân Giao mà rất có thể là đặc vụ trước đây chưa bị vạch mặt ra hồi 2013 liệu có đang ẩn núp sâu trong hàng ngũ học viên, nhất là ở trong hạng mục Đại Kỷ Nguyên Việt Nam?


Chưa biết nguyên nhân có thực sự là như vậy hay không, nhưng ít nhất có một sự kiện mà tôi nghĩ học viên chúng ta nên tự mình suy xét lại: chính CEO Đại Kỷ Nguyên Việt Nam là Vũ Đức Trung trong đợt Pháp hội tháng 5/2019 vừa rồi tổ chức tại Mỹ tuy có đến dự nhưng lại .. bị chặn không cho vào cửa.



Vũ Đức Trung là chủ trang Đại Kỷ Nguyên Việt Nam, nên khá nổi tiếng trong cộng đồng học viên bên Mỹ, mà lại bị chặn không cho vào Pháp hội, thì tôi nghĩ nhân vật này có lẽ thực sự đã mắc phải tội trạng nào đó mà không thể dung thứ. (Link)


Theo tôi được biết, Đại Kỷ Nguyên Việt Nam hiện đang mắc rất nhiều tội gây bại hoại thanh danh Đại Pháp: như ăn cắp bản quyền, đăng tin sai sự thật, kinh doanh tạp chí trong học viên, thậm chí còn dám tự tiền lấy tiền từ cổ phần trong hạng mục mà vốn thuộc quyền quản lý của Tập đoàn Epochtimes bên Mỹ đem ra đầu tư vào hoạt động riêng mà không xin phép - đó chẳng phải là sử dụng tài nguyên Đại Pháp sai mục đích là gì?