Tâm con người và quá trình tu bỏ tâm con người
- Editorial Board

- 15 giờ trước
- 31 phút đọc
[21/8/2026] Học viên Việt Nam

TÂM CON NGƯỜI
Trong quá trình tu luyện, tôi học Pháp hiểu rằng đó là quá trình liên tục tống khứ tâm chấp trước. Vậy sự hình thành của tâm chấp trước (hay tâm con người) cụ thể ra sao? Tất nhiên, những gì tôi chia sẻ từ đây trong bài viết này là trải nghiệm cá nhân của tôi trong quá trình tu luyện, đều là nhận thức từ việc học Đại Pháp, nó tất yếu còn tính hạn chế, nên chỉ có thể tham khảo.
Vũ trụ này – nơi mà chúng ta đang trú ngụ, là một trong vô số tiểu vũ trụ trong đại vũ trụ. Vũ trụ này là Thần thể của sinh mệnh lớn và có tên là Bàn Cổ, tôi học Pháp thì hiểu rằng khi Vũ trụ này được tạo ra thì cũng giống như thân thể người được thai sinh từ tinh cha huyết mẹ, sau đó Chân thần của Bàn Cổ sẽ tiến nhập vào vũ trụ [Hay Thần thể] đó – cũng giống như Nguyên thần của chúng ta tiến nhập vào phôi thai vừa hình thành đó.
Tôi nhớ đại ý, Sư phụ đã giảng rằng:
Trong thiên thể có đầy đủ hết thảy các nhân tố sản sinh các sinh mệnh; khi tiểu vũ trụ thời kỳ trước đã vào lúc kết thúc của “thành trụ hoại diệt”, thì thiên thể sẽ thai nghén sinh thành ra vũ trụ mới. Trong trạng thái hỗn độn [có] khi tiểu vũ trụ thời kỳ trước nổ tung, tiểu vũ trụ mới đã dần sinh thành; Chân Thần của Bàn Cổ cũng tiến nhập vào trong đó. Trong quá trình sinh thành, vật chất ở trong đó tổ hợp thành tầng tầng thiên và địa, đồng thời sinh thành tầng tầng vạn vật giữa các thiên và địa, kể cả các Thần có dạng giống với Chân Thần của Bàn Cổ và tầng tầng chúng sinh. Tiểu vũ trụ đã sinh thành xong. Thân thể con người là từ các lạp tử nhỏ cấu thành nên lạp tử lớn, rồi các lạp tử lớn cấu thành lạp tử lớn hơn; thân thể của Ông ta cũng như thế. Tương tự như điều mà người ta biết là phân tử do nguyên tử cấu thành; tất nhiên, những phân tử ấy lại có thể cấu thành nên các tinh cầu, các tinh cầu ấy lại cấu thành nên hệ Ngân Hà và các tinh hệ khác nhau, các tinh hệ khác nhau lại có thể tổ thành nên các vũ trụ thiên thể to lớn hơn; kết cấu là như vậy.
Nguồn: Giảng Pháp tại Pháp hội vùng đô thị New York, 2003.
Tôi hiểu rằng, mỗi tiểu vũ trụ này nó tương tự như thân thể của con người chúng ta, nó có quá trình phát triển, lão hóa, suy nhược và tử vong, và hiện tại là chúng ta đang ở trong thời kỳ “hoại diệt” của tiểu vũ trụ - hay thân xác của Bàn Cổ. Giống như tiểu vũ trụ chu kỳ trước sau khi phát nổ thì thiên thể vũ trụ sẽ tái tạo diễn hóa ra một tiểu vũ trụ mới, giống như nguyên thần sau khi cái xác này hết hạn sử dụng, sẽ rời xác và chờ luân hồi sang một cái xác mới ở đời kế tiếp. Nó cũng giống như tế bào của cơ thể con người sau khi sống đến một mức độ nhất định thì sẽ chết đi và sẽ có một tế bào mới sản sinh ra thay thế. Việc tế bào phải sản sinh ra liên tục như vậy là để phục vụ cho sự sinh tồn và phát triển của cơ thể. Có thể hình dung cơ thể như một tòa nhà liên tục được bảo trì: nếu ngừng thay mới các viên gạch hỏng (tế bào già), toàn bộ cấu trúc sẽ nhanh chóng sụp đổ trước tác động của môi trường. Như vậy đối ứng với việc các tiểu vũ trụ giải thể và tái tạo tiểu vũ trụ mới tôi hiểu cũng đối ứng tương tự.

Sau khi tiểu vũ trụ của Bàn Cổ được tạo ra thì Tam giới cũng được tạo ra vì nhu cầu của Chính Pháp, tôi hiểu rằng Tam giới không phải là toàn bộ tiểu vũ trụ của Bàn Cổ, mà chỉ là một phạm vi cục bộ nhỏ tương ứng với một hệ ngân hà nhất định mà thôi – cụ thể là hệ ngân hà mà có chưa hệ Mặt trời của chúng ta với Mặt Trời và 9 hành tinh. (Một hệ ngân hà [hay thiên hà] là tập hợp gồm rất rất nhiều hàng tỷ hệ mặt trời)
Tôi nhớ đại ý Sư phụ đã giảng rằng:
Vào lúc Ông ta được sản sinh, trong vũ trụ có các lạp tử tại các tầng khác nhau, các lạp tử ấy trong quá trình sinh thành của mình cũng sản sinh các sinh mệnh. Địa cầu chúng ta cũng là một bộ phận của thân thể Ông ta, là một bộ phận của tế bào trong thân thể Ông ta… Ban đầu chưa phân ra tam giới; lý do có tam giới vì cần truyền Đại Pháp tại tầng bề mặt của tiểu vũ trụ; nên từ đó đã chọn và định ra một phạm vi ba tầng lớn các cảnh giới sinh mệnh [khác nhau], tự [nó] là một thể hệ. Bàn Cổ là Thần, trong [thân] thể của Bàn Cổ chính là tiểu vũ trụ; do đó tại tất cả các thiên thể trong toàn thể tiểu vũ trụ đều là các Thần và chúng sinh tam giới tại các tầng khác nhau; nhưng riêng hình tượng các sinh mệnh trong không gian bề mặt thì xấu xí thấp kém, quái ác. Do vậy vì ban đầu theo yêu cầu của Chính Pháp mà tạo nên tam giới, chính là trong phạm vi tam giới này mà tạo hệ mặt trời và địa cầu.
Nguồn: Giảng Pháp tại Pháp hội vùng đô thị New York, 2003.
Trước đây tôi từng giảng về khái niệm vũ trụ, hằng bao nhiên hệ ngân hà cấu thành một phạm vi ấy chính là cái mà chúng ta gọi là ‘tiểu vũ trụ’. Hằng bao nhiêu trăm triệu những vũ trụ như thế mới cấu thành một vũ trụ tầng thứ hai. Cuối cùng thiên thể vũ trụ chúng ta to lớn nhường nào, một tỷ tỷ tầng các vũ trụ cự đại được gọi là phạm vi này, lấy hàng loạt những tỷ tỷ nối tiếp những tỷ tỷ ấy hình dung thành một phân tử không khí, đầy khắp hội trường đều là những lạp tử như thế cả, rất nhiều vũ trụ như thế, cũng chỉ là một lạp tử rất bé không [đáng] để mắt
Nguồn: Giảng Pháp vào ngày Kỷ niệm 20 năm truyền Pháp, 2012.
Với Phật Đạo Thần ở ngoài phạm vi Tam giới, thì tôi học Pháp hiểu rằng họ còn tồn tại “Chân Thể” [Hay còn được gọi là Thần Thể, Phật Thể] ở các cảnh giới khác nhau. Trong phạm vi Tam giới thì họ không gọi thân thể ở các tầng không gian trong đó là “Chân Thể”. Sư phụ có giảng được gọi là “bản thể” (thân thể ở mỗi từng không gian).
Tôi nhớ đại ý Sư phụ đã giảng rằng:
Đệ tử: Xin hỏi “Chân thể” là gì? “Công thân” là gì?
Sư phụ giảng đại ý rằng: Chúng khác nhau. Bởi vì toàn bộ mọi thứ nơi con người này trong mắt của chư Thần đều xem là không thực, chỉ có thân thể của Phật và thân thể của Thần mới là chân thực, nên [họ] gọi thân thể của tầng thứ đó hoặc cao hơn nữa là “Chân thể”.
Nguồn: Giảng Pháp tại Pháp hội miền Đông Mỹ quốc, 1999
Đệ tử: Ý nghĩa của tu bản thể và Phật thể?
Sư phụ giảng đại ý: ‘Bản thể’ mà chúng ta nói ở đây là một danh từ khái quát trong tu luyện ở tầng thứ thấp, là nói về thân thể chư vị ở các từng không gian, thân xác thịt của chư vị cũng bao hàm trong đó.
Đệ tử: Tính mệnh song tu là trùng hợp với nguyên anh đúng không?
Sư phụ giảng đại ý: Nghĩa là tính mệnh song tu ấy, cải biến của bản thể và nguyên anh tu luyện ra khi đến lúc đều hợp lên nguyên thần chư vị, hợp thành nhất thể.
Nguồn: Giảng Pháp cho các phụ đạo viên Pháp Luân Đại Pháp Trường Xuân, 1994
________________________
Bây giờ tôi sẽ đi sâu vào hình dung sự hình thành của tư tưởng của người tu trong Tam giới.
Tôi nhớ đại ý, Sư phụ đã giảng rằng:
Con người có ‘chân thể’. Khi người ta sinh ra, những Thần ở hạ giới mà quản việc con người chuyển sinh cần phải cấp cho một bộ da người. Mà bộ da người ấy bấy giờ rất là nhỏ, biểu hiện trong không gian này rất nhỏ. Từ lúc phôi thai, nó đã thuận theo việc phụ mẫu cấp cho nó vật chất của không gian này —mà gọi là dinh dưỡng— làm nó không ngừng nở lớn, trong quá trình nở lớn lên chính là quá trình lớn lên. Nguyên nhân nó nở lớn lên là vì không ngừng được lấp đầy bằng vật chất không gian này khiến lớp ‘chân bì’ ấy không ngừng nở lớn. Quá trình con người sau khi sinh ra rồi lớn lên cũng tương tự, chư vị dẫu là ăn đồ ăn nào của nhân loại, thì thân thể đều sẽ lớn lên, lớn lên ấy trên thực tế chính là lớp ‘chân bì’ được các tế bào tạo thành từ lương thực hậu thiên. Thông thường cá nhân ấy khi chết thì lớp ‘chân bì’ được rút ra và mang đi, vì nó là vi quan hơn so với vật chất ở bề mặt nhất, Thần nắm lấy một cái rồi mang đi. Lớp ‘chân bì’ một khi đưa đi, thì thân thể bề mặt bắt đầu hủ lạn [hư nát], tức là giải thể, vì nó chính là do vật chất trên mặt đất của không gian này cấu thành, nó cần quay về với đất, do vậy nó cần hủ lạn ở đó.
Nguồn: Giảng Pháp tại Pháp hội quốc tế New York, 2004
Bởi vì tư tưởng của con người mà tôi giảng là chỉ tư tưởng của chân thể chư vị, vậy mới cấu thành nên nguồn gốc thật sự của động cơ, tư duy của chư vị. Còn đại não, nó chỉ là một cái túi da của toàn bộ sinh mệnh chư vị trong tầng thứ con người này, là thứ nông cạn nhất, nó so với tư tưởng là hoàn toàn khác nhau. Tuy nhiên khi người ta biểu đạt điều gì, tư tưởng [của người đó] liền thông qua đại não của con người mà phát xuất ra.
Nguồn: Giảng Pháp tại Pháp hội Canada, 1999
Tư tưởng con người không phải đều xuất từ bề mặt của bản thân chư vị, có một số lời người ta đột nhiên thốt ra là từ đâu đến? Không phải mọi câu chư vị nói ra đều được suy nghĩ sâu và kỹ càng, mà là chư vị từ lạp tử bề mặt khác nhau cho đến chư vị cấu thành từ rất vi quan đều đang khởi tác dụng. Chỉnh thể sinh mệnh chư vị [là] từ lạp tử vi quan nhất đến lạp tử bề mặt đều đồng thời cấu thành chư vị, cho nên sinh mệnh chư vị không chỉ là một tầng tế bào bề mặt quá đơn giản vậy.
Nguồn: Giảng Pháp tại Pháp hội New York, 2011
Mà tầng tầng lạp tử cấu thành nên thân thể người đều trong tầng tầng không gian, là chỉnh thể chư vị, nhiều vô cùng; lạp tử cấu thành toàn bộ Tam giới có bao nhiêu tầng thì thân thể người có bấy nhiêu tầng, nhiều đến thế. Thân thể chư vị có nhiều tầng đến thế mà chư vị đều nhìn không thấy, nhưng Thần nhìn một cái là thấy. Thần nhìn chỉnh thể con người.
Nguồn: Giảng Pháp tại Pháp hội New York, 2017
Phó nguyên thần là không nhập tam giới, mà ở vi quan bên ngoài tam giới thao túng thân thể người.
Nguồn: Giảng Pháp tại Pháp hội miền Tây Mỹ quốc, 2000
_______________
Thân thể người mà chúng ta thường nhìn nhận có lẽ là chỉ giới hạn ở phương diện bề mặt, tức là thân xác thịt, nhục thân ở cõi không gian vật lý này. Thực ra, tôi học Pháp thì hiểu rằng thân thể người là nói đến chỉnh thể toàn bộ các lớp bản thể của từng không gian trong Tam giới. Mà tư tưởng con người nếu xét ở không gian vật lý này là nói về tư tưởng được hình thành bởi bản thể - hay phần “Chân bì” của nhục thân xác thịt; Cũng tương tự vậy, các bản thể khác của thân thể người ở mỗi từng không gian còn lại trong Tam giới nó cũng sinh ra tư tưởng, tôi hiểu là tùy theo mức độ cảnh giới trong Tam giới mà tư tưởng của nó sẽ phản ánh ra sự đặc thù khác nhau (tầng cảnh giới khác nhau sẽ sinh ra quan niệm khác nhau).

Ví dụ: Bộ phận tập hợp các bản thể ở phạm vi cõi Dục giới, thì tính từ đỉnh chóp của cõi Dục giới cho đến đáy (tức là phần bản thể ở cõi vật lý), sẽ phát sinh ra các tư tưởng dục tính, ham muốn sắc dục, ham ăn một cách bản năng. Bản thể mà càng gần chóp của cõi Dục giới thì ham muốn sắc dục, nhục dục, ham ăn v..v càng nhẹ và vi tế hơn, còn càng xa đỉnh chóp cõi Dục giới tiến về cõi vật lý này thì càng nặng, càng tăng trưởng ham muốn hơn. Những tư tưởng này được gọi chung là “tâm con người”.

Chúng liên tục được sinh ra khi con người sinh sống tại cõi Vật lý, cùng một “tâm con người” ví dụ là tâm sắc dục thì nó cũng sẽ phản ánh ra nhiều lớp khác nhau tương ứng với các bản thể trong phạm vi của cõi Dục giới. Những loại tâm này không phải là tư tưởng chân chính của chủ Nguyên thần người tu, mà nó là tư tưởng của bản thể sinh ra theo bản năng. Giống như cứ nhìn thấy người khác giới là sẽ động đến phần tư tưởng sắc dục theo bản năng, thấy đồ ăn ngon thì liền động đến phần tư tưởng ham ăn, thấy nguy hiểm hay bệnh tật thì liền động đến phần tư tưởng sợ chết theo bản năng v..v.

Tôi nhớ đại ý, Sư phụ đã giảng rằng:
Con người trước khi chết cảm thấy rất sợ hãi, kỳ thực chẳng đáng sợ chút nào. Khi còn tư duy con người tồn tại thì cảm thấy rất sợ, tư duy con người là tư duy cấu thành bởi các tế bào xác thịt, một khi nó tĩnh chỉ lại, sẽ đột nhiên cảm thấy như được tái sinh, được giải thoát, loại cảm giác hưng phấn, vả lại thân thể rất nhẹ nhàng, không có sự trói buộc của nhục thân, tư tưởng cũng toàn bộ được đả khai.
Nguồn: Giảng Pháp lần thứ nhất tại Mỹ quốc, 1996
Với các bản thể ở cõi cao hơn cõi Dục, ví như Sắc giới và Vô sắc giới, thì các tư tưởng của các bản thể sinh ra theo cá nhân tôi hiểu là đã bắt đầu nhẹ hơn về phương diện Dục tính, nhưng dường như lại bắt đầu mạnh lên ở góc độ nhận thức và tri thức. Tức là các dạng quan niệm về sự phân biệt, phân đẳng cấp. Hễ hình thành các tư tưởng về tri thức kiểu này thì sớm hay muộn cũng sẽ sinh ra sự tự phụ, tự mãn và nhu cầu phát triển về cái Danh theo hướng bản năng. Tức là trong quá trình sinh sống ở cõi Vật lý, khi người ra đạt được các thành tựu nào đó, có kinh nghiệm hay tri thức ở phương diện nào đó, thì thông qua sự tương tác xuyên suốt từ bản thể ở cõi vật lý bề mặt đến các bản thể ở các cõi cao trong Tam Giới thì theo bản năng sẽ sinh ra các tư tưởng về tự mãn, tự phụ rồi phản ánh đến Nguyên Thần, sau đó nếu Nguyên Thần thuận theo các tư tưởng này hoặc phản đối bài xích nó thì sẽ ra quyết định cuối cùng rồi phản ánh ngược lại xuống đến nhục thân ở bề mặt cõi vật lý này thông qua Đại não và biểu hiện ra lời nói/hành vi v..v. Phó nguyên thần (hay các sinh mệnh cao hơn khác) tác động đến thân thể người cũng tương tự, chỉ khác biệt là Phó nguyên thần là ngay từ đầu đã ở ngoài Tam giới, chứ không phải như chủ Nguyên thần của người ta đã tiến nhập vào Tam giới.
Tôi nhớ đại ý Sư phụ đã giảng rằng:
Kỳ thực, thân thể người không chỉ là chút xíu bề mặt này đâu, tầng tầng đều có thân thể chư vị, đều có tư tưởng chư vị, đều có tế bào chư vị, đều là chỉnh thể của chư vị; hành vi tại bề mặt khi làm một việc, thực thi một việc, toàn bộ tế bào đều đang vận động, đều đang suy xét, đồng thời không chỉ tại một không gian. Càng vi quan thì thời gian càng nhanh, năng lực của họ càng lớn. Chư vị ở bên này chư vị cảm thấy [mới] trải qua hơi hơi suy nghĩ nhưng bên kia đã nghĩ có khi là mấy năm rồi đó, là vì chúng không [cùng] tại một không gian.
Nguồn: Giảng Pháp tại Pháp hội New York, 2017
Trong khảo nghiệm nhân tâm, đối với người tu luyện nào mà xét cũng vậy, khi ở trong hai loại nhận thức khái niệm ‘người’ và ‘Thần’, và khi [chúng] đụng độ với nhau, thì sẽ xuất hiện trạng thái ấy. [Khi] tư tưởng của con người chiếm thượng phong, [thì] vị ấy bước hướng sang phía ‘con người’; [khi] tư tưởng của Thần và chính niệm của con người chiếm thượng phong, [thì] bước hướng sang phía ‘Thần’.
Nguồn: Giảng Pháp tại Pháp hội San-Francisco, 2005
Nên quá trình tu luyện, tôi hiểu là nhận ra và ức chế, bài trừ dần dần các tư tưởng của con người này. Người bình thường không tu thì sẽ mặc nhiên coi những tư tưởng hình thành hậu thiên trên bản thể ở mỗi tầng không gian trong Tam giới đều là chính họ đang suy nghĩ, hễ bị nó kiểm soát thì nó sẽ dẫn họ phát sinh ra các cảm xúc, chạy theo thất tình lục dục, tức là bị cái “tình” dẫn động, rồi từ đó vì lợi ích bản thân mà tạo vô số nghiệp.
Tôi nhớ đại ý Sư phụ có giảng rằng:
Đệ tử: Con thường xuyên đầu óc trống rỗng, không biết người khác nói gì, rốt cuộc là chuyện gì?
Sư phụ có giảng đại ý: Kỳ thực trạng thái [này] hết sức tốt. Chúng ta trong người thường, tư tưởng xác thực trở nên rất tinh [ranh]. Người ta chỉ hơi nói chư vị chút không dễ nghe hoặc hơi không vừa ý, chư vị lập tức bắt đầu cảnh giác, động một loại niệm đầu tư tưởng khác để bảo vệ bản thân phản kích người khác. Điều này hoàn toàn không phù hợp với trạng thái của người tu luyện. Làm thế nào đây? Vậy thì trong tu luyện phải tiến hành điều chỉnh những tư tưởng này của chư vị. Trong giai đoạn điều chỉnh không để chư vị lại dùng những tư tưởng đã thành quen để bảo vệ bản thân, có thể tổn hại đến người khác này nữa. Nên cái tư tưởng đó, khi muốn dùng thì phát hiện không còn nữa, đã trống rỗng rồi, thông thường đều như vậy, cho nên đối với người tu luyện là có chỗ tốt. Khiến cho chính niệm chư vị đều mạnh lên, lúc đó chư vị đã có thể giữ vững bản thân rồi. Là một hiện tượng tốt trong tu luyện.
Nguồn: Giảng Pháp tại Pháp hội New Zealand, 1999
________________
QUÁ TRÌNH TU BỎ TÂM CON NGƯỜI
Tế bào của con người có 2 cơ chế nội tại hoạt động, mục đích chung đều là để đảm bảo sự tồn tại lâu dài của tế bào - gọi là Cân bằng nội môi tế bào (Cellular Homeostasis), nhưng biểu hiện thì khác nhau:
Cơ chế Phát triển & Hỗ trợ (Tích lũy & Sinh trưởng)
Nhóm cơ chế này đảm bảo tế bào có đủ nguyên liệu, năng lượng và cấu trúc để duy trì chức năng.
Ví dụ - Đồng hóa (Anabolism): Tổng hợp các phân tử sinh học phức tạp (protein, lipid, axit nucleic, màng tế bào) từ các dưỡng chất đơn giản.
Cơ chế Đào thải & Dọn dẹp (Tẩy rửa & Thanh lọc)
Nếu không có cơ chế đào thải, các chất độc hại và rác thải nội bào sẽ tích tụ làm tế bào bị nhiễm độc và suy thoái.
Ví dụ - Tự thực tế bào (Autophagy): Tế bào tự đóng gói các bào quan hỏng (như ti thể thoái hóa) hoặc protein biến tính rồi đưa vào tiêu thể (lysosome) để phân hủy, tái chế thành nguyên liệu sạch.
Hai cơ chế này đối ứng với cơ thể người thì là hoạt động - "hít vào, thở ra", "ăn uống đầu vào, đại tiểu tiện đầu ra" - tức là đều nhằm mục đích vận hành phát triển cơ thể vật lý nhưng biểu hiện lại trái ngược nhau. Sự phát triển vật lý đòi hỏi một bên nạp năng lượng (tích tụ) và một bên xả rác thải (đào thải).
Hoạt động của tế bào, cũng đối ứng tương tự với hoạt động của một hệ ngân hà (thiên hà). Thể hiện ở sự tương đồng giữa vùng xoáy ở tâm tế bào (Trung thể - Centrosome) và hố đen siêu khối lượng ở tâm của hệ Ngân Hà (Sagittarius A*) là minh chứng rõ nét cho quy luật "trên sao dưới vậy" [As above so below] trong tự nhiên:
Ở cấp độ tế bào, trung thể được cấu tạo từ các vi ống xếp nghiêng thành hình cánh quạt lốc xoáy, phát ra mạng lưới đường ray để kéo mọi thành tố về lại trung tâm. Ở cấp độ thiên hà, hố đen tạo ra một giếng sâu hấp dẫn với đĩa bồi tụ xoáy cuộn vật chất vào tâm. Cả hai đều chọn cấu trúc "xoáy hướng tâm" làm phương thức tối ưu để thu hút và quản lý không gian xung quanh.
Nếu mất đi trung thể, tế bào sẽ mất khả năng định hướng phân chia, các bào quan bị trôi dạt vô hướng và cấu trúc nội bào nhanh chóng hỗn loạn. Tương tự, nếu không có lực hướng tâm cực đại của hố đen, các ngôi sao sẽ không có tâm quay chung để giữ vững hình đĩa xoắn ốc của Ngân Hà. Cả hai đều đóng vai trò là "mỏ neo trật tự" chống lại xu hướng tăng entropy (phân rã).
Tâm tế bào phối hợp với cơ chế Tự thực (Autophagy) để nuốt chửng các bào quan cũ hỏng, phân giải chúng thành phân tử nguyên liệu sạch nuôi sống tế bào. Hố đen Ngân Hà cũng liên tục "nuốt" khí bụi, xé nát vật chất rồi phóng ra các luồng phản lực (AGN) để thổi sạch rác thải không gian, điều tiết tốc độ sinh sao. Cả hai không phải là điểm chết tĩnh lặng, mà là những "động cơ sống" liên tục thực hiện quá trình sàng lọc, thanh lọc và tái sinh vật chất.
Dù chênh lệch nhau hàng tỷ tỷ lần về quy mô kích thước, tâm tế bào và hố đen thiên hà cùng vận hành chung một quy luật: Lấy sự hướng tâm làm gốc để duy trì sự tồn tại, dùng sự thanh lọc nội tại để giữ vững cân bằng sinh mệnh.
Phát triển lên cao hơn thì là lý "tương sinh tương khắc". Nếu phát triển lên cao hơn nữa ở tầm vũ trụ, thì tôi hiểu là 2 lực lượng sinh mệnh cao cấp: Như Lai (Pháp Vương) và Ma Vương. Ở tầng Vũ trụ: Hai lực lượng Như Lai (Đại diện cho Trật tự, Từ bi, Nâng đỡ) và Ma Vương (Đại diện cho Thử thách, Hỗn loạn, Hủy diệt) bản chất là hai mặt của cùng một Quy luật Vận hành. Cả hai đều đóng vai trò là "công cụ" để sàng lọc, thanh lọc và tiến hóa các thực thể sống dưới sự cai quản của vị Thần tối cao quản lý tiểu Vũ trụ ở từng cảnh giới khác nhau trong các tầng vũ trụ khác nhau.
Tôi nhớ đại ý, Sư phụ có giảng:
Pháp Luân xoay chuyển có đầy đủ đặc tính giống như vũ trụ, là [hình] ảnh thu nhỏ của vũ trụ. Pháp luân trong Phật gia, âm dương trong Đạo gia, hết thảy những gì của thế giới mười phương, không gì không phản ánh tại Pháp Luân. Pháp luân xoáy vào (thuận chiều kim đồng hồ) độ bản thân, hấp thụ lượng lớn năng lượng của vũ trụ, diễn hoá thành “công”; Pháp Luân xoáy ra (nghịch chiều kim đồng hồ) độ nhân, phát phóng năng lượng, phổ độ chúng sinh, chỉnh lại cho đúng hết thảy trạng thái không đúng; người ở gần chỗ người tu luyện đều nhận được lợi ích.
Nguồn: Đại viên mãn Pháp
__________
Như vậy, trong quá trình diễn hóa vận hành của tế bào, thì dựa theo quy luật phát triển: không sớm thì muộn tế bào cũng sẽ suy hoại và chết dần sau đó được thay mới bằng tế bào khác, cũng giống như các tiểu vũ trụ rồi cũng đến lúc bị nổ tung và tái tạo lại bằng tiểu vũ trụ mới. Tốc độ chết nhanh hay chậm liên quan đến 2 hướng phát triển đối ứng với 2 lực cân bằng nội môi tế bào, một là "hướng tâm", hai là "vô hướng".
Lực "hướng tâm" là lực thu hút mọi yếu tố về một tiêu điểm chung. Trong vũ trụ, lực hấp dẫn kéo chất khí tụ lại thành ngôi sao, giữ các hành tinh quay quanh quỹ đạo; trong nguyên tử, lực liên kết giữ các hạt không bị văng ra ngoài. Sự hướng tâm tạo ra cấu trúc, trật tự và duy trì sự tồn tại.


Lực "vô hướng" (hay còn được gọi là trạng thái hướng về entropy) là một dạng phân tán, phân giải, lâu dần dẫn đến sự thoái hóa, hỗn loạn và tan rã (quá trình một quả táo từ xanh, chín rồi thối rữa dần dần chính là đang đi theo lực "vô hướng"), tiểu vũ trụ khi đến giai đoạn hủy diệt thì sẽ phát nổ, trái đất khi hết thời hạn sử dụng cũng phát nổ. Quá trình kích nổ bomb hạt nhân cũng tương tự vậy, làm phân rã nguyên tử hạch cũng là đi theo lực "vô hướng" - hủy diệt cấu trúc hạt nhân, giải phóng nhiệt lượng và năng lượng khổng lồ.

Tế bào nếu áp dụng lực hướng tâm, giống như một người tu luyện nhập đại định (hay còn gọi là Samadhi), tức là về bản chất họ thông qua nguyên thần chủ động kiểm soát cơ thể, "giảm tốc độ trao đổi chất" đến mức tối đa nhất, như vậy có thể kéo dài sinh mệnh sống của tế bào (hay bản thể vật lý của người tu luyện). Để bước vào và duy trì được trạng thái Samadhi (đại định), việc buông bỏ các tâm chấp trước (sự bám chấp, dính mắc) là điều kiện cốt lõi và bắt buộc.
Thể xác của người rơi vào trạng thái "giảm tốc độ trao đổi chất" đến mức gần như tối đa thì sẽ biểu hiện ra là rắn như đá, nguyên thần của họ có thể xuất ra khỏi thân xác và vẫn giữ một sợi dây năng lượng để kết nối với thân xác vật lý, còn thân xác vật lý được bảo quản ở một nơi đặc thù nào đó (VD hang động, kim tự tháp, trong băng đá v..v - đại khái là nhiệt độ phải thấp gần về 0 độ C), lúc này thân xác đó có thể trải qua hàng chục, hàng trăm, hàng vạn năm hoặc hơn mà không bị phân rã hay hủy hoại. Khi nào nguyên thần của họ nhập lại cái xác này thì nó liền có thể tái hoạt động, thậm chí vẫn ăn uống, phát triển nòi giống như bình thường. Có thể lấy ví dụ dễ hiểu nhất là trường hợp của Đạt Ma tổ sư (diện bích 9 năm).


Quy luật này không phải chỉ với một cá thể tế bào, hay một người đơn lẻ, mà nó đối ứng với rất nhiều phạm vi rộng lớn khác. Ví dụ như một quốc gia mà ban hành các chính sách kích phát người dân đi theo trạng thái "vô hướng", tức là đẩy nhanh sự phát triển, hướng ra thỏa mãn nhu cầu vật chất, hay thúc đẩy chiến tranh v..v thì sẽ gia tăng tốc độ hủy diệt của quốc gia đó. Quốc gia nào mà khiến cho người dân "hướng tâm", bớt ăn chơi tiêu xài, bớt hưởng thụ, phát triển nội tâm thay vì lo hưởng thụ vật chất, thì "tuổi thọ" của quốc gia đó sẽ được kéo dài ra. Hướng tâm, hay còn gọi là "hướng nội", theo tôi hiểu thì chính là quay về gần với Pháp của vũ trụ, quay về với Đạo. Thế nên con người ngày nay thấy xã hội phát triển, công nghệ tiên tiến, đời sống vật chất phong phú, kỳ thực là đang nhanh tiến về hủy diệt, là đang thoái lùi; Phát triển thực sự là phải hướng tâm, hướng về Đạo, nhưng trong cách nhìn của những người hiện nay thì sống như thế lại chính là "cổ hủ, lạc hậu, kém phát triển". Thực ra đó cũng là trạng thái của người trong giai đoạn sắp sửa bị hủy diệt. (Trương Quả Lão cưỡi lừa ngược là ví dụ).
__________
Như chúng ta học vật lý thì có thể hiểu rằng: Nước có 3 thể, từ thể Khí thanh nhẹ, sau đó nặng dần thì hóa thành thể lỏng, nặng nữa thì hóa thành thể rắn (băng đá). Thân thể người lúc mới sinh ra, lực sống còn mạnh, như một đứa bé thì sờ vào người rất mềm mại, nhẹ nhàng, nhưng trong quá trình sinh sống thì bắt đầu xơ cứng dần và đến khi chết đi thì cái xác sẽ cứng như đá. Trong tam giới, thì trên cùng là các người Trời ở thể vô hình - cõi Vô sắc giới, khi hạ tầng thứ xuống dần thì là cõi Sắc giới, bắt đầu sở hữu thân thể hữu hình, và xuống nữa là cõi dục giới, thân thể hữu hình nhưng nặng nề hơn.

Nguyên thần của người tu khi giáng hạ và khoác lên mình bộ da của con người trong cõi vật lý cấp thấp để trải nghiệm cuộc sống tại nơi con người, trong quá trình sinh sống và trải nghiệm đó, trong bản thể con người sẽ thu nạp các tín tức từ bên ngoài thông qua ngũ quan (mắt - mũi - mồm - tai - da thịt), từ đó hình thành các chủng tư tưởng quan niệm hậu thiên. Những quan niệm hậu thiên này nó có nhiều lớp tùy vào mức độ tiếp xúc và hoàn cảnh của mỗi người, có người thì biểu lộ khá bản năng (ít lớp bọc), có người thì biểu lộ rất tinh vi (tức là được che đậy bằng nhiều lớp).
VD: Một người sinh ra, mới từ em bé thì thấy đồ ăn liền kêu gào muốn ăn, thấy đồ chơi thì lao vào, thấy bố mẹ không quan tâm thì hờn dỗi khóc nhè. Đấy là những quan niệm hậu thiên còn mới hình thành, còn khá đơn thuần, dễ nhận diện. Một số người lớn hơn có loại tình cách "ruột để ngoài da" cũng đại khái tương tự (tất nhiên họ cũng hình thành tương đối lớp bọc rồi).
VD: Một người có học, họ được dạy dỗ cách giữ thể diện, cách đi đứng nằm ngồi làm sao để thể hiện là người có học, có phẩm hạnh. Họ dẫu có muốn làm gì đó thì cũng phải biểu hiện ra sao cho "hợp lý" để bảo vệ cái danh "có học" đó. Như vậy, ví như họ muốn ăn, thì phải cố ăn sao cho có dáng vẻ lịch sự, từ cách cầm đũa, cách bưng bát, cách nhìn trước ngó sau. Hoặc muốn yêu ai thì phải lịch sự tiếp cận, hỏi han, quan tâm rồi dần dần mới bộc lộ mục đích. Đó là các quan niệm hậu thiên được bọc trong nhiều lớp quan niệm khác nhau.

Vì xã hội con người là xã hội phản lý, người ta phải tranh giành, đấu đá lẫn nhau để chiếm tài nguyên, phát triển, nên các quan niệm hậu thiên hình thành đều dựa trên cơ điểm "bảo vệ lợi ích của bản thân". Các quan niệm, cách tư duy, kinh nghiệm sống v..v đều cơ điểm là "bảo vệ bản thân", để bản thân không phải chịu thiệt.
VD: Các doanh nghiệp luôn đề ra chiến lược, kinh nghiệm để phòng ngừa rủi ro trong làm ăn kinh doanh, tránh bị lừa, tránh đầu tư sai lầm, họ hình thành các học thuyết kinh tế, các mẹo làm ăn, các kinh nghiệm nhận diện dấu hiệu thị trường v..v. Thực chất đều là để phục vụ "lợi ích" của họ không bị tổn hại.
Theo quan điểm của tôi, ngoại trừ các lời răn dạy của Thánh nhân và các vị Giác giả để khuyên con người tu tâm dưỡng tính, đi theo đường lối hướng tâm để không bị sa đọa quá dễ dàng, thì hầu như các học thuyết hay lý thuyết mà xã hội con người đang phát triển và giảng dạy ngoài xã hội hiện nay - Tức là nó sẽ khiến người ta đi theo cách thức "vô hướng", đi theo cách này sẽ khiến tốc độ tự hủy diệt tăng lên, con người càng học và càng chấp vào các dạng học thuyết và lý thuyết xã hội, họ càng "thông minh" thì kỳ thực họ càng dễ bị các loại quan niệm hậu thiên điều khiển đi về hướng tự hủy diệt. Càng chấp dính vào các quan niệm hậu thiên bề mặt phát sinh ra từ bản thể vật lý ở cõi người thì giống như nước càng nhanh đóng băng, càng nặng, càng rơi rớt cho đến khi hủy diệt (cứng ngắc như đá). Họ sẽ vì bảo vệ lợi ích mà "thông minh", "lanh trí", "bản lĩnh", "trải đời" v..v mà tìm cách tranh giành lừa đảo, hủy hoại lẫn nhau, cái kết cuối cùng là tự hủy diệt.
Quan niệm hậu thiên dẫn động con người đi theo hướng hủy diệt, là vì nó liên tục gia tăng sự nhấn mạnh vào cái tôi vị kỷ, phân biệt giữa "tôi" và "họ". Như "lợi ích của tôi", "lời tôi nói", "do tôi làm", "quan điểm của tôi". Càng đi theo lực vô hướng thì thể hiện là càng phân tách, càng phân rã, coi "lợi ích của tôi" khác biệt với "lợi ích của mọi người". Chính sự phân biệt "cái tôi" với người khác sẽ khiến một người càng nhanh tiến đến diệt vong. Hướng tâm chính là đi ngược lại, tu bỏ dần "cái tôi", không còn "lợi ích của tôi", "cái nhà của tôi", "tiền của tôi", "chức vụ của tôi", "con của tôi" v..v mà hòa vào cái chung, đồng hóa về với Pháp, với Đại Đạo. Còn phân biệt "tôi" và "ta" thì còn bị ràng buộc bởi cõi "nhị nguyên", càng phân biệt thì càng đi xa rời Đạo và tiến về hủy diệt.
Các quan niệm này hình thành thời gian lâu, được nhồi đi nhồi lại, thì sẽ thành phương thức tư duy, tức là cứ giao tiếp mà đụng đến phương diện đó thì lập tức họ sẽ bị "quan niệm hậu thiên" này thao túng. VD: Tôi đã bảo rồi, dấu hiệu như thế chính là sắp lạm phát, thị trường sắp đảo chiều đi xuống, đáng lý các vị phải chú ý tránh đổ tiền vào giai đoạn này. - Hoặc - Cơ thể tự dưng thấy ớn lạnh, hắt xì, bản thân liền dâng lên nỗi sợ "thôi chết, thế này là có dấu hiệu bị cảm lạnh, bị cúm rồi" v..v.
Các mô thức tư duy này nó là một tổ hợp bọc nhiều lớp, và ẩn sâu dưới cùng chính là cái mục đích vị kỷ thuần túy - cầu Danh, cầu Lợi, cầu Sắc Dục v..v. Con người ta hàng ngày tiếp xúc, trao đổi, nói chuyện, chia sẻ các quan niệm kinh nghiệm sống, bàn ra tán vào v..v thực chất đều là những thứ này. Người ta có thể cãi nhau, tranh luận ác liệt vì cho rằng "quan niệm, kinh nghiệm" của tôi tốt hơn, đúng đắn hơn. Thực chất đó là các kinh nghiệm bảo vệ lợi ích bản thân, để làm sao bản thân không bị thiệt thòi hơn.
Do đó, khi chủ nguyên thần muốn thoát khỏi những sự ảnh hưởng của các dạng quan niệm hâu thiên này, thì họ thường hay bị các lớp vỏ của nó làm nhiễu, đánh lạc hướng, tưởng là chính đáng.
VD: Cái lõi động cơ là sắc dục, nhưng khi phát triển thì nó được bọc rất nhiều lớp che đậy, nào là quan niệm đạo đức, nào là rủi ro bị từ chối, nào là khả năng sức hút của bản thân. Nên một người quan niệm bọc càng nhiều thì họ càng dè chừng trong việc tiếp cận người khác giới. Ví như một người đàn ông muốn ngoại tình, thì họ phải tập "đánh hơi dấu hiệu" của người nữ (không phải là vợ của anh ta) trước, người nữ lúc đầu sẽ không bao giờ tỏ rõ là họ cũng muốn ngoại tình mà chỉ biểu hiện rất nhẹ nhàng để ra dấu hiệu. Và nếu 2 phía tương hợp thì họ mới bắt đầu tiến sâu hơn, phát triển các mối quan hệ "mập mờ", kiểu như hay lựa công việc để đi cùng nhau, lúc về hay giả vờ đi cùng đường để đưa nhau về cùng, dần dần họ mới bắt đầu sa vào ngoại tình thực sự (tức là quan hệ tình dục). Tức là sâu trong tâm họ, họ lúc đầu chỉ nghĩ họ là đang nói chuyện hợp gu, chỉ tiện đưa đón giao tiếp trong công việc thôi, là chính đáng, nhưng thực chất là họ đang bị cái động cơ sắc dục ẩn sâu trong hàng đống lớp quan niệm hậu thiên kia điều khiển.
Như vậy để nói, việc tu luyện hàng ngày của một người là khá vất vả, vì hễ thức dậy và ra ngoài tiếp xúc xã hội, là sẽ liền nổi lên trong đầu rất nhiều các mô thức tư duy, mô thức suy nghĩ, quan niệm, kinh nghiệm. Biểu hiện rõ ra bề mặt chính là thất tình (7 dạng cảm xúc).
Hỉ: Vui mừng, hoan hỉ.
Nộ: Giận dữ, tức giận.
Ai: Buồn bã, đau khổ, thương xót.
Lạc: Vui sướng, thoải mái.
Ái: Yêu thương, quý mến.
Ố: Ghét bỏ, oán hận.
Cụ: Lo sợ.
Ví như đi đường, thấy tắc đường mà bản thân đang vội đến công ty đúng giờ, không thì điểm danh muộn bị trừ lương, cái lõi "sợ bị trừ lương" này sẽ phản ánh ra bề mặt qua việc khó chịu khi có người đi chậm cản trở bản thân phóng xe nhanh đến sở làm, hay khó chịu khi cứ gặp đèn vàng, hoặc khó chịu khi xe hết xăng nhưng vào đổ xăng thì lại phải xếp hàng lâu. Cái khó chịu, bực tức phản ánh ra bề mặt xuất phát ra từ cái động cơ "sợ bị trừ lương", và sâu hơn là "sợ bị tổn thất lợi ích", tức là tâm cầu Lợi, nhưng họ sẽ phản ánh ra các quan niệm than trời trách người, rồi sinh ra oán hận các kiểu.
Ví như thấy đồng nghiệp trong công ty lương cũng như mình, nhưng lãnh đạo phòng lại cứ chỉ nhắm vào mình mà sai việc, đồng nghiệp kia thì ngồi không xem phim không bị sai gì, cuối tháng thì hưởng lương như nhau không kém một xu với mình, thì liền bề mặt tỏ ra khó chịu, oán hận bất bình. Bản thân có thể sẽ than vãn với người thân hay đồng nghiệp phòng khác rằng bản thân bị đối xử không công bằng, sếp thiên vị v..v. Cái đúng/sai bề mặt đó nguồn cơn là từ cái lõi "lợi ích", cái lõi đó bị động và phản ánh ra sự khó chịu, nhưng đến bề mặt là các quan niệm về "bình đẳng trong công việc" bọc thêm vào. Vì động chạm lợi ích, không công bằng nên sinh ra "tật đố", phản ánh ra sự khó chịu oán hận.

Những cảm xúc này, nguồn gốc đều là từ các quan niệm hậu thiên do cái xác vật lý này gây ra, vì nó dính liền với cái xác này nên khi nó phản ứng ra thì tự cơ thể cũng sẽ khó chịu/vui mừng, nhưng người không tu thì họ không phân biệt ra được, họ coi họ cũng chính là "cái xác vật lý" này, họ coi họ cũng chính là các tư tưởng hậu thiên hiện lên trong đầu. Nếu là cảm xúc bề mặt theo hướng tích cực thì ít gây ra hậu quả, nhưng nếu theo hướng tiêu cực thì dễ gây ra hậu quả, đó là khiến cơ thể nhanh suy kiệt, nhanh mắc bệnh.
Nhiều người chồng về nhà bị dồn nén cảm xúc tiêu cực do quan niệm hậu thiên gây ra khi mâu thuẫn lợi ích, họ không dám thổ lộ xả ra với vợ mình (sợ bị vợ chê thiếu bản lĩnh), nên họ hay tìm ra quán nhậu, ở đó họ thông qua giao tiếp với bạn nhậu cũng như chất cồn mà xả bớt áp lực tiêu cực dồn ép trong tâm ra, nhiều người hỏi rằng tại sao họ cứ lê la quán xá rượu bia, nói chuyện với đội bợm nhậu có tác dụng gì đâu, toàn bốc phét và đãi bôi xã giao. Thực ra đó là nơi họ "xả cảm xúc". Nếu trong lúc họ đang bị dồn nén "cảm xúc" mà khi về nhà lại gặp đả kích từ người vợ (vì bản thân người vợ cũng bị dồn nén "cảm xúc", đang qua hình thức cằn nhằn chồng mình mà xả bớt ra) thì tất yếu chủ nguyên thân của người chồng sẽ chịu không nổi mà mất kiểm soát quay ra chửi bới đánh đập vợ mình.
Là phụ nữ thì sẽ sinh ra hiện tượng tám chuyện, nói nhiều, cũng là một dạng xả cảm xúc. Lúc phụ nữ đang bị dồn nén cảm xúc tiêu cực, chủ nguyên thần của họ rất yếu, họ đang cần nơi xả, nơi đồng cảm, nên khi gặp một đồng nghiệp nam hay bạn bè là nam giới chủ động ngồi nghe, ngồi tâm sự, sẽ khiến người phụ nữ rất dễ sản sinh sự "thân mật", lúc này cơn thèm Sắc dục bản năng nó không cần thiết phải ngụy trang dưới nhiều lớp vỏ bọc quan niệm hậu thiên nữa, nhất là nếu lúc tâm sự lại là ở hoàn cảnh rượu bia thì rất dễ khiến nam nữ đi quá giới hạn, tức là bị tâm Sắc dục bản năng của cái thân thể vật lý này điều khiển.
Cho nên cá nhân tôi hiểu một phần lý do vì sao thời xưa các bậc Thánh nhân phải phổ truyền các giáo lý đại ý là "nam nữ thụ thụ bất tương thân", nam nữ kết hôn phải qua mai mối, nam nữ chưa phải là vợ chồng thì không được quan hệ tình dục v..v. Vì bản chất con người khi không có lớp ràng buộc quan niệm đạo đức ngăn lại (lực hướng tâm) thì tất yếu sẽ vì quan niệm hậu thiên vị kỷ sinh ra kích phát thỏa mãn dục vọng giống như loài thú (lực vô hướng), sẽ rất nhanh tiến về hủy diệt. Để đảm bảo xã hội loài người không bị hủy diệt quá nhanh (cũng giống như để tế bào không bị chết quá nhanh) thì sự xuất hiện của các bậc Thánh nhân, Giác giả là tất yếu trong mỗi nền văn minh, họ sẽ giảng ra các Pháp lý, hình thành ra các hệ thống đạo đức, giữ luân thường, tạo kỷ cương, phân thứ bậc để đảm bảo trật tự xã hội con người không nhanh rơi vào hỗn loạn.
Tu luyện trong khi sinh sống tại xã hội hiện nay kỳ thực cũng không phải là đơn giản. Vì con người có gia đình, có các mối quan hệ, có công việc, có con cái v..v nên khi tỉnh dậy mỗi sáng họ liền bị đủ thứ quan niệm hậu thiên thao túng, ví như phải cho con đến trường đúng giờ không lại bị cô giáo kêu, phải hoàn thành tiến độ công việc đúng thời hạn, phải mua quà cho vợ nhân dịp lễ, phải đưa bố mẹ đi khám bệnh v..v. Những luồng tư tưởng này sẽ chiếm thượng phong trong tâm trí của họ, khiến họ quay cuồng từ sáng đến tối. Ngay cả việc học Pháp luyện công của họ cũng dần dần sẽ chỉ còn là hình thức, vì sau một ngày họ lao động đã rất oải và mệt. Cái vấn đề ở đây, là họ cần phải chủ động tự sắp xếp, giảm bớt các thú vui/dục vọng không cần thiết, tạo ra một khoảng thời gian tĩnh trong ngày không bị ai làm phiền, chỉ có một mình họ, để họ có thể suy nghĩ lại những gì họ gặp phải trong ngày, xem xem bản thân những tư tưởng, những hành vi, những cảm xúc họ phát ra trong ngày có vấn đề gì không, và có chấp trước dục vọng nào ẩn giấu, họ trước tiên phải làm được như vậy.
Lâu dần, khả năng tư duy phân tách bản thân chủ nguyên thần và các mô thức tư duy, quan niệm hậu thiên rạch ròi và rõ ràng hơn, thì lúc này họ mới dần dần có thể tu ngay trong hoàn cảnh mâu thuẫn, liền có thể vừa va chạm lời qua tiếng lại với đồng nghiệp thì chỉ thời gian ngắn sau đó họ đã có thể truy vết các cảm xúc, quan niệm bề mặt xuống để tìm ra chấp trước động cơ ở lõi, từ đó nhận ra và bài trừ nó đi, giải quyết căn nguyên của cái cảm xúc khó chịu oán hận đó từ gốc rễ (chứ không phải nhờ qua tâm sự bạn nhậu, rượu bia xả stress cảm xúc như người bình thường), nó là một quá trình liên tục thực hành, liên tục vấp ngã và bò dậy, liên tục kiểm thảo lại bản thân, liên tục rút kinh nghiệm sau mỗi lần bị "quan niệm hậu thiên" dắt mũi. Thì dần dần việc tu của họ mới có sự cải thiện đáng kể, chủ nguyên thần của họ cũng mạnh dần lên và bắt đầu chủ động làm chủ cái thân xác vật lý này, nó là quá trình đi từ nông đến sâu.
Con người bình thường không tu luyện, họ sẽ bị các chấp trước, quan niệm hậu thiên điều khiển lao ra tranh đoạt lợi ích ngoài xã hội, đó là đi theo lực vô hướng, tức là đi theo con đường hủy diệt, thoái hóa. Cứ nhìn con người hiện nay vì lợi ích mà hủy hoại lẫn nhau, tạo ra vô số nghiệp lực, tuổi thọ ngắn dần, tỷ lệ chết trẻ, chết bất đắc kỳ tử tăng mạnh chính là đang đi theo quy luật. Đi ngược lại cái lực vô hướng đó thì bản thân con người phải tự hướng tâm mình, tự bài trừ và thoát khỏi ảnh hưởng của các quan niệm hậu thiên hình thành trong tư tưởng, giảm bớt dục vọng, giảm bớt nhu cầu vật chất, chú trọng phát triển tâm thức, mà quá trình đó là rất khó và rất nhọc sức, vì nó đi ngược lại quá trình vận hành tất yếu của vật chất. Người tu Đại Pháp là có lực lượng của Đại Pháp hỗ trợ, có Pháp lý của Sư phụ chỉ đường thì mới có thể phản bổn quy chân.
Trên đây là nhận thức về tâm con người và quá trình tu bỏ chấp trước con người của cá nhân ở góc độ bề mặt vật lý, tất yếu sẽ còn nhiều hạn chế, nên chỉ có tác dụng tham khảo.


