Hãy chú ý khi có những tư tưởng xuất hiện trong đầu
- Editorial Board

- 2 ngày trước
- 14 phút đọc
[18/4/2026] Học viên tại Việt Nam

Trong quá trình học Pháp, cá nhân tôi hiểu rằng tư tưởng trong đại não của con người có thể tạm chia thành 03 nguồn:
- Xuất phát từ bản tính tiên thiên (hay tôi hiểu là phần Phật tính hay chủ nguyên thần);
- Xuất phát từ bộ phận hình thành hậu thiên [những quan niệm/kinh nghiệm sống/chấp trước] (hay tôi hiểu là phần Ma tính);
- Xuất phát từ những sinh mệnh không gian khác phản ánh vào.
Những quan niệm/kinh nghiệm sống/chấp trước hình thành hậu thiên theo tôi học Pháp thì hiểu rằng đó là những dạng vật chất hình thành trong tư tưởng của con người từ khi sinh ra và lớn lên, cái gốc của nó là vì để sinh tồn và phục vụ mục đích bảo vệ lợi ích của bản thân. Nên về bản chất các dạng tư tưởng này là ích kỷ, nó đối lập với bản tính tiên thiên thuần khiết. Có một đặc điểm là các chủng tư tưởng hậu thiên này có tính phái sinh và phát triển, tức là con người ta càng sống lâu năm, thông qua quá trình tiếp xúc với ô nhiễm nơi xã hội (qua 5 giác quan) thì chúng càng phát triển và phái sinh ra nhiều chủng hậu thiên mới. VD trước đây thì chấp vào điện thoại gập Motorola sành điệu, bây giờ thì chấp vào Iphone đời mới (gọi là đu trend).
Một người trong quá trình tu luyện, tôi hiểu rằng tỷ trọng phần bản tính tiên thiên của một người so với các bộ phận hậu thiên hay tư tưởng từ ngoại lai tác động mà nhiều hơn, thì căn cơ và ngộ tính của người đó tương ứng cũng tốt hơn, tất nhiên ở đây không xét đến những trường hợp đặc thù mà chỉ xét tình huống phổ thông.
Tuy nhiên, phần đông con người sinh sống hiện nay thì bộ phận bản tính tiên thiên đó của họ theo tôi học Pháp thì hiểu rằng gần như đã bị phủi bụi, bị chôn sâu xuống.
Trong đại não của họ bị chủ đạo bởi phần tư tưởng hình thành hậu thiên và các tin tức ngoại lai từ không gian khác. Cũng tức là, nhiều người hiện nay không phải họ thực sự đang sống cho họ (phần bản tính tiên thiên), mà họ đang bị một bộ phận tư tưởng hậu thiên hình thành trong quá trình sinh sống (cũng bao gồm cả các tín tức ngoại lai từ không gian khác) “chiếm đoạt quyền điều khiển thân xác”.

Bộ phận hậu thiên và ngoại lai này đều là có sinh mệnh, đều có thể tư duy và có cảm xúc một cách độc lập. Cơ điểm tư duy của bộ phận hậu thiên này là vị kỷ, ví như cầu danh thì chỉ suy nghĩ làm sao để mọi người chú ý đến mình, khen mình, coi trọng mình, đối đãi cư xử tốt với mình. Phù hợp với cái tâm cầu danh hình thành hậu thiên đó thì nó sẽ phản ánh ra sự hoan hỷ vui mừng, còn ngược lại nếu trái ý nó thì nó sẽ phản ánh ra sự khó chịu và oán hận.
Sự khó chịu oán hận hay hoan hỷ này kỳ thực không liên quan gì đến bộ phận bản tính tiên thiên (hay chủ nguyên thần của người ta), nhưng do phần bản tính tiên thiên hiện nay của nhiều người đã quá yếu và bị chôn quá sâu nên hầu như là để mặc cho bộ phận hậu thiên đó phát tác, nó phát xuất ra tư tưởng gì thì liền làm theo, nói theo, nghĩ theo. Nó chửi mắng người ta thì cũng chửi theo, nó bảo đánh người ta thì cũng đánh người.
Chỉ có người tu luyện, thì tôi hiểu rằng họ mới dần dần thông qua đề cao tâm tính, dần dần đi từ nông đến sâu, họ mới ý thức ra được “có cái gì đó không đúng”, “rằng mình không nên tỏ ra khó chịu bực tức như vậy”, “rằng mình không nên làm như vậy”. Đó là bộ phận tiên thiên của họ đang mạnh dần lên, bắt đầu ý thức và giành lại quyền kiểm soát cơ thể. Tức là họ đã bắt đầu nhìn ra những sự “khó chịu”, “hoan hỷ”, “những ý nghĩ không đúng đắn” kia không phải là của họ [hay bản tính tiên thiên] phát xuất ra.
Giai đoạn đầu, họ có thể chỉ cảm thấy sự khó chịu trong tâm kia là không đúng, nhưng họ vẫn chưa minh xác được căn nguyên tại sao họ lại khó chịu. Lý do là vì tập quán sinh sống từ nhỏ đến hiện tại họ đã quen coi những ý nghĩ của bộ phận hậu thiên kia là chính họ, họ quen coi đó là họ nghĩ, là tư duy của họ, thậm chí còn cho rằng đó là bình thường, là chính đáng. Nhưng khi tu dần lên, họ sẽ bắt đầu phân biệt dần ra được ý nghĩ nào không phải của họ, ý nghĩ nào nhìn qua tưởng tốt nhưng động cơ là xấu, tức là giống như trước đây đổ trộn một đấu gạo (tiên thiên) với một đấu thóc (hậu thiên), bây giờ là bắt đầu biết phân loại ra đâu là gạo, đâu là thóc.
Việc phân biệt rõ ràng các ý nghĩ phát sinh trong tư tưởng, phân rõ đâu là của bộ phận hậu thiên và từ đó bài trừ chúng theo tôi hiểu đó chính là quá trình tu luyện, bài trừ Ma tính và bồi bổ Phật tính.
Như vậy, việc tu luyện nếu thực sự nhìn sâu vào nội tâm thì đó là cả một cuộc chiến trường kỳ rất đau đầu và người tu phải đấu tranh nội tâm rất nhiều, nhìn bề mặt thì họ vẫn sinh sống, vẫn sinh hoạt bình thường như bao người, nhưng sự khác biệt là nằm ở bên trong tư tưởng của họ, thuận theo việc họ nhận ra và bài trừ càng nhiều bộ phận hậu thiên, thì cảnh giới tư tưởng của họ càng đề cao, càng quy Chân, càng tiến về cảnh giới gốc ban đầu mà xuất sinh ra bản tính tiên thiên của họ. Công việc này khó hơn và phức tạp hơn rất nhiều so với cách hiểu tu luyện ở bề mặt là học Pháp nhiều, luyện công chăm, làm hạng mục nhiều.
Tu luyện theo cá nhân tôi hình dung, giống như một tảng băng trôi, người ta nhìn bộ phận bề mặt của tảng băng thì tưởng nó chỉ đơn giản có vậy (học Pháp, luyện công, làm việc chứng thực Pháp), nhưng cái người ta không hình dung ra được là bộ phận ở dưới mặt nước biển kia mới là hãi hùng, nó rất to.
Nói lý thuyết để hình dùng thì dễ, nhưng cái quá trình đi sâu vào nội tâm, để tìm các chủng tâm chấp trước, các quan niệm hậu thiên đó là rất khó. Vì thực sự nó có quá nhiều và quan hệ chằng chịt đan xen như một mạng nhện. Các chủng chấp trước đều có sự cộng hưởng lẫn nhau, ví như một người tự mãn về cái gì đó, thì ắt sẽ sinh hiển thị và cầu danh, cũng thường dễ sinh tật đố với người khác về chính phương diện đấy v..v.
Nhiều người khi mới bắt đầu đụng chạm đến bộ phận hậu thiên này thì họ cảm thấy rất thống khổ, ví như khi bị ai đó nói không ra gì, bản thân cảm thấy mất mặt, trong tâm thống hận người đã nói mình không ra gì, họ rất khó Nhẫn cái sự thống hận đó lại, mà gần như để mặc cho nó điều khiển. Tu luyện tôi hiểu chính là bước đầu phải Nhẫn và kiểm soát được sự oán hận do tâm chấp trước hay bộ phận hậu thiên đó phản ánh ra, sau khi giữ được vững thì cần phân tách rõ đó không phải là bản thân người tu (chủ nguyên thần) khó chịu, mà là tâm cầu danh kia khó chịu, và bản thân phải ra sức xả bỏ bộ phận chấp trước cầu danh đó bằng cách phát ra ý nghĩ bài xích, ức chế, phản đối nó trong tư tưởng.
Việc phân rõ “thóc và gạo” này là tiền đề rất quan trọng, vì nếu không phân biệt được thì tôi học Pháp thì hiểu rằng Pháp thân của Sư phụ sẽ rất khó trợ giúp học viên gỡ bỏ dần bộ phận chấp trước đó ra khỏi tư tưởng (vì nếu học viên vẫn coi tư tưởng hậu thiên đó là họ, thì không thể tiêu diệt nó được). Nhưng cũng không phải là cứ hễ phân rõ “thóc và gạo” là liền Pháp thân Sư phụ sẽ giúp học viên gỡ bỏ ngay, vì tôi học Pháp thì hiểu rằng Pháp thân Sư phụ sẽ còn xem người tu có kiên định bài trừ chấp trước đó hay không? Hay chỉ làm lớt phớt để lừa Pháp thân Sư phụ?
Tôi nhớ đại ý Sư phụ đã từng giảng rất rõ như sau:
Trong bài Giảng Pháp tại Pháp hội Úc châu, 1999
Đệ tử: Mặc dù con đã tìm cách phân biệt đâu là tự ngã, con vẫn không thể hoàn toàn khiến nó {tình trạng này} chấm dứt.
- Sư phụ có giảng đại ý rằng: Nếu chư vị nói “Ta không muốn ngươi”, và nó cứ như vậy chết đi, vậy quá dễ rồi. Đồng thời khi chư vị có thể phân biệt nó, chư vị đang trở nên mạnh mẽ hơn, chư vị đang tỉnh ngộ, chư vị đang đột phá ra khỏi sự bao vây của nó, ngày càng mạnh mẽ hơn, trong khi nó ngày càng yếu nhược, dần dần tan biến, cuối cùng bị tiêu diệt, cần có một quá trình.
___________________
Trong bài Giảng Pháp tại Pháp hội San-Francisco, 2005
Đệ tử: [Con] đã nhận thức được chấp trước của mình, như kiêu ngạo, tật đố, v.v. nhưng vì sao mãi vẫn không bỏ đi được?
- Sư phụ có giảng đại ý rằng: Nếu chư vị thật sự coi những thứ đó quan trọng như thế thì có thể khắc chế nó, vậy chính là có thể làm nó tiêu và yếu đi, dần dần triệt để trừ bỏ nó. Nếu như chư vị cảm thấy ‘Tôi biết rồi, cũng sốt ruột rồi’, nhưng trên thực tiễn chư vị chưa thật sự ức chế nó, chư vị chỉ là ngưng lại tại chỗ chỉ là nhìn thấy, cảm thấy có loại hoạt động tư tưởng ấy, nhưng chưa có hành vi ức chế nó. Nói cách khác, chư vị chỉ nghĩ đến đó chứ chưa tu trên thực tiễn.
Còn một điểm nữa, chư vị nói ‘Tôi chú tâm tu rồi, thực tiễn tôi cũng làm vậy rồi’, sẽ còn có tình huống đó. Là vì, những thứ được dung dưỡng mà thành qua thời gian lâu là đã bị sinh mệnh của cựu vũ trụ ấn vào đó những nhân tố phân chia ra các tầng; do đó, mỗi lần đột phá một tầng hạ bỏ một tầng, đột phá một tầng hạ bỏ một tầng, đột phá một tầng hạ bỏ một tầng; nên nó càng ngày sẽ càng yếu, càng ít. Nó sẽ không lập tức [bị] tống khứ hoàn toàn, [mà] có biểu hiện như thế. Kể cả nhiều tâm người thường khác cũng biểu hiện như thế.
__________
Trong bài Giảng Pháp tại Pháp hội Chicago, 2004
- Nếu một người tu luyện không muốn vứt bỏ chấp trước của bản thân, lại thường kiếm cớ “người khác [phê bình] tôi, tôi không muốn nghe, Sư phụ [phê bình] tôi, tôi mới muốn nghe”; vậy đến khi Sư phụ bảo chư vị thì những trái núi lớn kia của chư vị phải chăng tự động không tồn tại? Khối đá ngoan [cố] ấy không cần tu cũng lập tức biến mất ư? Nếu tôi giúp chư vị làm thế thì không được tính là chư vị tu luyện; do vậy không thể làm; phải dựa vào bản thân chư vị tu bỏ chúng đi. Có nhiều sự việc chư vị làm không nổi, nhưng Sư phụ có thể làm, Sư phụ thực hiện [chúng] thế nào? [Tôi] không nói tôi hễ gặp chư vị liền bỏ chúng đi. Khi chư vị kiên định chính niệm, có thể bài xích chúng, tôi sẽ gỡ bỏ cho chư vị từng chút từng chút một; chư vị có thể làm được bao nhiêu, tôi giúp chư vị bấy nhiêu, tức là giúp chư vị huỷ [bỏ] bấy nhiêu.
__________
Như vậy, việc tu luyện chúng ta có thể hình dung đó là quá trình liên tục tìm và phân biệt rõ đâu là tư tưởng do hậu thiên hình thành trong đầu (bao gồm cả nghiệp tư tưởng, nhưng nghiệp tư tưởng thì dễ nhận diện hơn, nó thường mắng chửi người khác, còn chấp trước thì nó biến hóa đa dạng và biết ngụy trang), sau đó liên tục ức chế và bài trừ các chủng tư tưởng do hậu thiên hình thành này trong đầu. Đây tôi hiểu mới là trọng tâm của tu luyện, mới là phần khó nhất. Vì thông thường người ta khi chưa quen phân tách các chủng tư tưởng trong đầu, mà quen nghe theo nó, thì lúc các tư tưởng chấp trước hậu thiên phản ánh ra sự thống khổ khó chịu, thì họ liên buông xuôi theo luôn, họ e sợ không dám tiến thêm, họ sợ nỗi khổ đau nhói trong tâm do bộ phận hậu thiên phản ánh ra, nên họ có xu hướng “né tránh”, “quên đi” những nỗi đau đó, giống như người ta uống thuốc giảm đau để quên đi cơn đau. Như thế thì tu cũng bằng không, dẫu có học Pháp luyện công nhiều cỡ mấy cũng vô ích.
Lúc bình thường nếu không xung động đến các bộ phận tư tưởng hình thành hậu thiên, thì chúng nằm yên trong đại não, nhưng khi có kích thích từ ngoại cảnh, thì chúng sẽ tùy theo sự kích thích đó là vừa ý chúng hay không vừa ý chúng mà sẽ phản ánh ra sự khó chịu hay hoan hỷ. Tức là khi xảy ra mâu thuẫn, va chạm lợi ích, thì bộ phận tư tưởng hậu thiên đó sẽ phản ánh ra, chính cái lúc này là lúc người tu cần truy vết ngược lại trong tâm, đặt câu hỏi "tại sao tự nhiên gặp chuyện này mình lại khó chịu, lại hoan hỷ?", rồi sau đó truy sâu xuống, xem thực sự cái tâm nào khiến họ khó chịu/hoan hỷ, từ đó nhận diện rõ ra chúng và bài trừ chúng đi, thì chúng mới được tiêu bỏ dần (bởi Pháp thân của Sư phụ). Hoàn cảnh mâu thuẫn kia có lẽ cũng tự nhiên biến mất, người ta lại không gây sự nữa. Vốn nguyên nó đến để moi chấp trước ra cho người tu nhận diện để đề cao tâm tính lên. Nên tôi mới hiểu một phần hàm nghĩa của "lấy khổ làm thuyền".
Ví dụ như ai đó nói hạ thấp, coi thường, khinh rẻ mình, mình cảm thấy mất mặt khó chịu, vậy ắt sự khó chịu kia là có vấn đề, vậy có phải khó chịu vì cảm thấy mất mặt? Mất mặt là do cái tâm nào khởi lên? có phải là tâm cầu danh hay không? Sư khó chịu đó có phải do tâm cầu danh khởi phát ra hay không? Khi nhận diện ra được thì người tu cần nhẫn cái sự khó chịu đó xuống, đồng thời phân rõ ra trong tư tưởng là họ (chủ nguyên thần) không khó chịu mà là cái tâm cầu danh kia hình thành hậu thiên khó chịu, họ và cái tâm cầu danh kia không phải là một, và họ muốn nó phải chết.
Còn nói sự tác động của phần tín tức ngoại lai, tôi hiểu rằng bộ phận này thực ra cũng xuất phát từ nhiều nguồn.
1. Phó nguyên thần;
2. Ma ở không gian khác;
3. Các thực thể cao tầng.
v..v
Thực ra thì phó nguyên thần cũng không được xem là tín tức [từ thực thể] ngoại lai, vì vốn phó nguyên thần cũng cùng hoạt động và điều khiển thân thể với chủ nguyên thần, chỉ là tôi tạm tách biệt ra cho dễ hình dung trong bài viết này, vì tôi học Pháp thì hiểu tu luyện Đại Pháp là tu chủ nguyên thần.
Ở đây tôi sẽ không đề cập đến các tín tức xuất phát từ phó nguyên thần hay của các thực thể cao tầng. Tôi chủ yếu chỉ nhấn mạnh vào phương diện Ma ở không gian khác.
Giữa các tư tưởng chấp trước hậu thiên hình thành trong đầu của người ta và các thực thể ma quái ở không gian khác theo tôi hiểu là có sự tương hỗ cộng hưởng lẫn nhau. Khi người tu càng bị loại chấp trước nào đó thao túng nặng, ví dụ như chấp sắc dục nặng, thì những loại Ma ở không gian khác liên quan đến dâm dục sẽ đánh hơi được người đó, chúng sẽ bị thu hút bởi người đó và tiến đến gần trường không gian của người đó. Khi chúng đến chúng sẽ phát ra các tín tức dâm dục vào trong đại não của người ta, người ta sẽ cảm thấy tự nhiên trong đầu tràn ngập những “hình ảnh dâm dục”, “ý nghĩ truy hoan”, “quan hệ xác thịt” v..v, cũng tức là chúng sẽ trợ giúp phóng đại bộ phận tư tưởng hậu thiên về tâm sắc dục trong đầu người ta lên, khiến cho người ta càng dễ mất khống chế.
Những ý nghĩ bệnh hoạn biến dị về tình đồng giới hay quan hệ với xác chết hay với động vật tôi hiểu cũng thường là do Ma ở không gian khác đổ vào đầu người ta. Nguyên nhân thực chất cũng vì bản thân người ta giữ tâm không chính, để mặc cho tâm sắc dục thao túng cơ thể.
Do đó, khi người tu giữ tâm chính, thì Ma ở không gian khác không có cớ để tiếp cận, nếu chúng tùy tiện vô cớ tiếp cận và can nhiễu học viên thì khả năng chúng sẽ bị Chính Thần giết chết. Cá nhân tôi hiểu rằng thường là do tự bản thân giữ tâm không chính, dung dưỡng chấp trước không bỏ nên chúng mới có cớ tìm đến. Không riêng gì tâm sắc dục, các dạng tâm chấp trước khác như tự mãn, cầu danh, cầu lợi, tranh đấu, tật đố cũng tương tự. VD người mà có tâm tự mãn hay cầu danh lâu ngày không bỏ, Ma ở không gian khác muốn quấy phá có thể phản ánh các ý nghĩ “tự huyễn hoặc” bản thân vào đại não của họ, khiến họ dần dần tự nghĩ họ có bản sự cao, rồi sắp thành Thần đến nơi, rồi đi xa hơn nữa là bắt đầu ăn nói linh tinh mất kiểm soát, xưng là con Trời, con Phật hay vị nào đó giáng thế v..v.
Tôi nghĩ rằng những vấn đề về tu luyện trong Pháp Sư phụ đã giảng rất rõ, cụ thể là trong Chuyển Pháp Luân và các kinh văn sau này, chỉ có điều nếu học viên chỉ đọc mà không chịu thực hành, không chịu quay vào trong mà tập phân biệt và bài trừ các chủng tư tưởng chấp trước hình thành hậu thiên, mà chỉ mãi nghĩ tu luyện là học Pháp bề mặt đếm số cho nhiều, luyện công cho nhiều, làm hạng mục cho nhiều thì tôi e họ vẫn chỉ là người bình thường, dẫu họ đã vào tu lâu năm thì họ vẫn chỉ dậm chân ở cảnh giới người bình thường. Tâm người thường mà không bỏ, thì sẽ còn mãi bị lừa, bị dẫn dụ, thậm chí phá hoại Đại Pháp mà không tự biết.
Ai cũng đọc Pháp, cũng hiểu cần phải tu ra sao, Sư phụ giảng rất rõ ràng, nhưng đó là hiểu lý thuyết, còn xem người tu thực hành ra sao? Nói dễ, làm không dễ, sở dĩ không dễ, tôi hiểu rằng chính vì họ tích tự cả đống chấp trước kia mà mãi không chịu bỏ, người tu gặp vấn đề mâu thuẫn thì lại quay ra tìm cách bảo vệ lợi ích/danh dự của bản thân, thích đấu khẩu khí hơn thua, chứ không chịu hướng vào trong nội tâm mà tìm, mà phân biệt, mà bài trừ chấp trước, nên họ tu mãi mà vẫn cứ bò lết không khá lên nổi.
Trên đây là nhận thức còn hữu hạn của tôi về vấn đề tu bỏ các chấp trước trong tâm, đều là từ việc cá nhân học Pháp mà hiểu ra, do nội hàm của Đại Pháp là vô biên, và nhận thức này của tôi vẫn còn nhiều hạn chế thiếu sót, nên bài viết rốt ráo cũng chỉ có tác dụng tham khảo.


