top of page

Sự bại hoại của tư tưởng đạo đức con người về phương diện nam nữ luyến ái khi nhìn từ giai đoạn lịch sử cận đại phát triển đến hiện nay

  • Ảnh của tác giả: Editorial Board
    Editorial Board
  • 20 giờ trước
  • 26 phút đọc

[03/05/2026] Học viên Việt Nam


Trước khi vào nội dung của bài viết, tôi xin được trích lại một số đoạn Kinh văn được Sư phụ giảng mà tôi nhớ đại ý, không nguyên văn như sau:


1. Giảng Pháp tại Pháp hội Châu Âu, 1998


Đạo đức nhân loại ngày càng mất đi, xã hội đã đến mức không ai có thể dọn dẹp được nữa rồi, con người cũng đến lúc nguy hiểm nhất rồi. Bởi vì Thần không thể cho phép loại nhân loại biến dị ở dạng giữa người và súc vật này tồn tại.


Mọi người biết rằng người phương Tây không sao lý giải được [tại sao] giữa nam nữ người Trung Quốc vẫn còn câu nệ đến thế. Tôi nói với mọi người đó mới là con người. Khai phóng {cởi mở} giới tính đã gây hỗn loạn nhân chủng, hỗn loạn nhân luân, Thần là tuyệt đối không cho phép. Cho nên một người tu luyện, chư vị tuyệt đối không thể làm những sự việc như vậy. Chư vị có thể có vợ, có chồng của chư vị, đây là cuộc sống chính thường của con người. Nếu như họ không phải chồng, không phải vợ của chư vị, chư vị và anh ta (cô ta) phát sinh hành vi về giới tính thì chính là phạm tội. Bất kể tôn giáo chính thống nào của phương Đông phương Tây, lời giảng của Thần về phương diện này đều vô cùng nặng. Khi quy phạm con người giảng rất nặng.


2. Giảng Pháp tại thành phố New York, 1997


Nhưng tôi bảo mọi người, Trái Đất này nếu không có con người thì cái gì cũng không có. Chính vì có người, nên Trái Đất mới có vạn sự vạn vật. Hết thảy động vật, sinh vật, thực vật đều vì người mà sinh, mà diệt, mà thành, mà dùng. Không có người thì không có gì hết; ngay cả lục đạo luân hồi chuyển sinh ấy cũng là vì người. Trên mặt đất hết thảy mọi thứ đều vì con người mà tạo nên.


3. Giảng Pháp lần thứ nhất tại Mỹ quốc, 1996


Con người tại sao lại gọi là người? Bởi vì con người sống trên đời phải có tiêu chuẩn đạo đức, có quy phạm của người, chư vị mới là người được, nếu không sẽ không gọi là người. Không phải chư vị có một cái đầu và tứ chi thì là người. Con khỉ cũng có tứ chi, những sinh vật tương tự như con người trong các không gian khác cũng có rất nhiều, chúng cũng không thể được gọi là người. Bởi vì con người có hành vi và tiêu chuẩn đạo đức của người, có quy phạm đạo đức của người thì mới là người. Nếu con người vứt bỏ quy phạm đạo đức của người, không còn tiêu chuẩn đạo đức của người nữa, giống như động vật, vậy thì thiên thượng sẽ không coi con người là người nữa, cho rằng đó là thú. Đến lúc đó nhân loại mới [lâm vào tình cảnh] đáng sợ. Tại sao lại đáng sợ? Mọi người nghĩ xem trái đất là do Thần đặc cách tạo ra cho con người chứ không phải đặc cách tạo ra cho thú vật. Nếu mà như vậy, thế thì rất nhiều người không tốt chớ thấy họ hiện nay điều loạn bát nháo gì cũng dám làm, có thể [họ] sẽ đối mặt với nguy cơ bị tuyệt diệt.


4. Giảng Pháp tại San Francisco, 1997


Con người chỉ có ngoại hình của loài người thì không thể nói họ là người. Quỷ kia tại sao không gọi là người? Nó chỉ là ít hơn chư vị một tầng lạp tử. Vậy con khỉ, tinh tinh tại sao không thể gọi nó là người? Vì người không chỉ có thân thể và tứ chi mà còn có quy phạm, quan niệm đạo đức của người. Người mà mất đi quan niệm đạo đức, đánh mất quy phạm đạo đức của người, đánh mất chuẩn tắc làm người thì họ không là người nữa. Do đó xã hội nhân loại hôm nay tôi có thể nói thẳng rằng, Thần đã không coi họ là người nữa. Chư vị nghĩ xem nhân loại còn không [trong tình trạng] nguy hiểm sao? [Điều mà] chính phủ, quốc gia, dân tộc cho phép, thậm chí trong cảnh giới tư tưởng của chư vị, ý thức của chư vị, chư vị công nhận, [nhưng] nó không nhất định là tốt. Cho nên chư vị hãy nhìn xã hội hôm nay, hút hít, buôn bán sản xuất ma túy, chuyển đổi giới tính, đồng tính luyến ái, giải phóng tình dục, xã hội đen, hiện ra không dứt.


5. Giảng Pháp tại Manhattan, 2006


Ngoài ra đề cập một điểm khác là đệ tử Đại Pháp cần chú ý về phương diện sinh hoạt. Như mọi người đã thấy, không phải là vợ chồng mà quan hệ nam nữ bất chính ấy là tội ác của nhân loại, phá hoại gia đình, [làm] bại hoại nhân luân.


Vấn đề này với người tu luyện mà giảng, quá khứ là yêu cầu phi thường nghiêm khắc; vô luận chủng [loại] tu hành nào xét cũng rất nặng. Quá khứ nếu một người xuất gia phạm giới về phương diện này thì chư vị đừng tu nữa. Nếu là một đệ tử được Thần Tiên nào đó dẫn vào núi tu, ai mà phạm lỗi này thì chư vị vĩnh viễn là xong rồi. Sự tình nghiêm túc đến thế. Là đệ tử Đại Pháp, chư vị tu trong Đại Pháp còn thần thánh hơn; nhưng một số học viên lại không chú ý như thế.


Trong rất nhiều dự ngôn đề cập “những người có thể còn lại cuối cùng đều thuần tịnh, thân thể đều kiền tịnh”. Họ nhìn nhận rằng việc bảo trì sự thuần tịnh của con người là quan trọng nhất, không gì quan trọng bằng; do đó [ai] được lưu lại nhất định là những người như thế, [ai] tu luyện thành cũng nhất định là như thế, người được lưu lại trên Trái Đất cũng nhất định là như thế. Mọi người [thử] nghĩ xem, Thần trong vũ trụ khi nhìn thấy đệ tử Đại Pháp làm những việc kia thì sẽ đối đãi chư vị thế nào? Dùng tiêu chuẩn của họ đối với một người sẽ thành Thần mà yêu cầu, chư vị hễ làm loại việc kia thì đáng sợ nhường nào? Hễ ai phạm lỗi về phương diện này, Thần của khắp trời đều nhìn nhận rằng nhất định phải đánh hạ chư vị xuống, tuyệt đối không thể chấp nhận chư vị; do đó nạn mà chư vị gặp phải từ nay về sau có rất nhiều nhân tố là những Thần đó họ thuần tuý là tống chư vị xuống; điều ấy gây khó khăn cho tu luyện đến nhường nào? Do đó họ mới khiến chư vị tái phạm mãi, phạm nhiều lần mà không sửa, cuối cùng trong xung đột tâm tính mà nhấn chư vị xuống tà ngộ. Bao biện chính mình; không ngừng bao biện thì sẽ [sang] tà ngộ; cuối cùng thậm chí đối với [Pháp] Lý của Đại Pháp cũng không nhìn nhận nữa, cuối cùng sẽ sang phản diện.


[Hết]


NỘI DUNG CHÍNH


Tư tưởng về hệ thống quy chuẩn làm người theo tôi học Pháp thì hiểu rằng được Thần an bài qua sự xuất hiện của Nho gia do Khổng tử hệ thống hóa lại vào khoảng hơn 2500 năm trước đây. Thực chất, tư tưởng quy chuẩn làm người của Nho gia vốn đã tồn tại từ trước khi có Khổng tử vài trăm năm trước, theo lịch sử ghi nhận thì người đặt nền móng cho hệ tư tưởng Nho gia của Khổng tử là Chu Công Đán – người định hình các lễ nghi và tư tưởng thời Nhà Chu cách đây tầm 3000 năm.


Hệ thống Nho gia quy phạm các lễ nghi, phép tắc, trật tự thứ bậc và quan hệ giữa người với Trời, người với người trong xã hội. Những điều này thực chất vẫn chỉ là nền móng cho quy chuẩn đạo đức làm người, là những gì mà Thần bên trên quy định cho con người nếu muốn làm người, tôi học Pháp thì hiểu rằng Thần đã phái các Giác giả trong vũ trụ đến nền văn minh của con người để giảng dạy cho con người biết thế nào là hành vi nên có của con người.


Con người nếu không có quy chuẩn đạo đức trong quá trình sinh sống thì sẽ giống như thú vật, thú vật chỉ có một chút hiểu biết về góc độ bầy đàn chứ hoàn toàn là lối sống bản năng nguyên thủy, chỉ có biết săn mồi, ăn uống, quan hệ tình dục, không có chút gì quan niệm về ứng xử và đạo đức, chúng không mang bản tính người nên nếu loại nào dễ đắc linh khí mà tu luyện thì dễ thành Ma hại người nên thường sẽ bị Trời diệt. Nhiều người trong giới siêu giàu trên thế giới hiện nay là hoàn toàn chính là thú vật, họ trong đầu chỉ toàn là tà dâm, thậm chí biến thái đến mức còn quan hệ đồng tính, ấu dâm và quan hệ với động vật, bề ngoài họ vẫn diễn vẻ đạo đức nhưng khi ở những nơi khuất bóng hoặc khi tham gia các hội kín tà vạy họ mới lộ diện bản tính thú vật. Họ cũng đang tham gia vào việc cai trị và tẩy não nhân loại thông qua truyền thông đại chúng, biến con người đạo đức càng ngày càng suy bại, càng ngày càng phóng túng dục vọng, thậm chí đã rơi rớt về ngang với thú vật.


Người với thú vật là có sự phân biệt lớn cả về góc độ loài lẫn cảnh giới tâm tính, con người là con người, thú vật là thú vật, thú vật nếu muốn chuyển sinh thành người thì phải rất lâu, đắc được thân người rất khó; Chỉ riêng sự thăng tiến trong việc chuyển sinh giữa các loài thú vật thôi cũng đã không dễ dàng rồi, ví như từ những con vật nhỏ như thằn lằn để tiến lên gia cầm như heo gà theo tôi tìm hiểu thì phải luân hồi mất mấy trăm đời. Con người vốn là tinh anh của vạn vật, do Thần tạo nên, có thể tu luyện lên được, ấy vậy mà thời cận đại bại hoại nhiều người thậm chí còn đem thú vật xem như con người, đối đãi còn tốt hơn cả với con người. Có nhiều ca bại hoại thậm chí còn giao phối với cả thú vật, lai giữa thú vật và con người. Chính vì lý do xã hội con người đã quá biến dị nên mới bị Thần cho vào diện phải bị tiêu hủy, tất cả đều do con người tự mình chiêu mời cái họa này đến.


Tuy nhiên, với người tu luyện, vốn phải vượt lên khỏi cảnh giới của con người thì yêu cầu về tiêu chuẩn đạo đức đương nhiên là cao hơn và nghiêm ngặt hơn. Dần dần qua quá trình thăng hoa và đề cao thì người tu luyện cá nhân tôi hiểu là cần từ từ buông bỏ, coi nhẹ những thứ của con người. Nhưng để làm được điều đó trên thực tế là rất khó, vừa phải sinh sống ngay tại nơi con người vốn đủ thứ sắc tình ái luyến, vừa phải dần dần coi nhẹ các chủng dục vọng và đề cao tâm tính thì không dễ - Vì vậy nên các chủng hình thức tu luyện trong quá khứ họ mới chọn phương thức xa cách con người đến nơi vắng vẻ mà tu luyện, làm như thế thì một mặt giữ cho họ thanh tịnh và đỡ bị các thứ nơi con người ô nhiễm, nhưng một mặt lại khiến cho họ tu lên rất chậm. Tu luyện Đại Pháp thì tôi học Pháp hiểu rằng quy định người tu lại chính tại hoàn cảnh xã hội hiện tại, mà lại vào đúng thời điểm ô nhiễm nhất, bại hoại nhất trong các giai đoạn lịch sử của nền văn minh lần này mà tu luyện, nên đương nhiên rất khó, chỉ là cái được chính là nếu vẫn có thể trụ vững và tu luyện được thì sẽ tu lên với tốc độ nhanh nhất.


Nói về xã hội hiện nay là xã hội ô nhiễm nhất thì nó phản ánh ở nhiều phương diện, trong bài viết này tôi chỉ nêu cụ thể là về vấn đề nam nữ luyến ái ở một số góc độ làm đối chiếu tham khảo.


1. VỀ KHÔNG GIAN GIAO TIẾP GIỮA NAM VÀ NỮ


Nam nữ giao tiếp là rất dễ kích phát luyến ái, từ đó sinh ra dâm dục. Vì vậy, trong các triều đại lịch sử đã quy chuẩn nam và nữ ở các không gian rất riêng biệt, không chỉ giữa vợ chồng mà còn quy phạm cho cả những ai còn chưa lập gia thất.


Ví dụ:


- Trong một gia đình thì đàn ông ra ngoài làm việc, phụ nữ thì lo xử lý chuyện trong nhà (Nam ngoại, nữ nội).


- Con trai thì được cho học riêng (tức là ở đó toàn là người nam chứ không lẫn người nữ) ở các trường tư thục, trường làng. Con gái thì chỉ học ở nhà, do người mẹ hoặc người thầy dạy riêng.


- Phụ nữ càng thuộc gia đình khá giả, có điều kiện, gia đình giữ gìn càng chặt, thì càng ít xuất hiện ở nơi công cộng. Còn phụ nữ thuộc gia đình ít điều kiện, phải ra ngoài làm việc đồng áng, phải lộ diện nhiều.


- Trong khám chữa bệnh, nếu người đi khám là nữ và người thầy là nam, thì thường sẽ có ngăn rèm để bắt mạch (qua sợi chỉ buộc trên cổ tay nữ), hoặc người nữ mô tả qua triệu chứng của bệnh. Trong các y quán lớn thì thường sẽ chia rõ buồng nam và buồng nữ, nữ bệnh nhân có người nhà là nữ hỗ trợ chăm sóc; Quá trình thăm khám thì cần nữ y sư thao tác nếu cần phải cởi bỏ y phục, không được để thầy thuốc nam nhìn trực tiếp. Cũng không được để nữ bệnh nhân tiếp xúc với nam giới lạ ở nơi khám bệnh.


ảnh minh hoa các thầy thuốc ngày xưa bắt bệnh cho nữ nhân đều phải qua vật dụng trung gian như chỉ, không được tiếp xúc trực tiếp mặt đối mặt với người bệnh là nữ.
ảnh minh hoa các thầy thuốc ngày xưa bắt bệnh cho nữ nhân đều phải qua vật dụng trung gian như chỉ, không được tiếp xúc trực tiếp mặt đối mặt với người bệnh là nữ.

Tất nhiên, đây là quy chuẩn nghiêm ngặt cho những tình huống thông thường trong khám chữa bệnh, nhưng có một số ngoại lệ trong những hoàn cảnh đặc thù nghiêm trọng VD: người bệnh gặp tình huống nguy hiểm cần chữa trị ngay tại thời điểm đó, cháy nhà cần cứu người, người đuối nước v..v thì có thể tạm thời gác lại vấn đề lễ tiết để cứu người. Nếu trong những trường hợp nguy cấp cần cứu người gấp mà vì quá chấp vấn đề lễ tiết nam nữ mà làm lơ không cứu, thì ngược lại đó lại không phải là hành vi nên có của con người.


Tức là chỉ trong bối cảnh rất nguy kịch mà không có thời gian suy nghĩ hay chờ đời ứng cứu từ nơi khác, liên quan đến sinh tử thì mới lựa chọn như vậy chứ không phải tùy tiện áp dụng vào tình huống thông thường. Tất nhiên, động cơ phải chính đáng, chứ không phải ngay trong tư tưởng đã có ý nghĩ lợi dụng các hoàn cảnh đó để thực hiện hành vi nam nữ bất chính. Có thể lấy ví dụ về "Tọa hoài bất loạn" của Liễu Hạ Huệ được ghi chép trong sách “Thuần chính mông cầu” làm tham khảo.


Liễu Hạ Huệ là một người sống ở nước Lỗ vào thời Xuân Thu. Một hôm vào đêm đông giá rét, có một người phụ nữ vô gia cư đến nhà ông tìm nơi trú ẩn nhờ. Liễu Hạ Huệ lo ngại rằng cô gái này có thể sẽ chết vì lạnh, nên ông đã để cô vào trong nhà mình. Hơn nữa, do tình trạng sức khỏe của cô gái ấy, ông đã để cô ngồi trên đùi, quấn áo mình quanh người của cô và áp cơ thể của cô vào mình để cô gái đỡ lạnh. Họ đã ngồi như vậy suốt đêm và ông đã không làm bất kỳ điều gì không đứng đắn.


Ví dụ trên đây theo tôi hiểu là thuộc về trường hợp khẩn cấp liên quan đến tính mạng, không còn lựa chọn nào khác để né tránh. Và bản thân Liễu Hạ Huệ tuy biết hoàn cảnh bất đắc dĩ nhưng cũng biết thủ trụ vững tâm tính, không để lạc bản tâm sang điều tà và không có hành vi không đoan chính trong suốt đêm, tức là cảnh giới tâm tính cũng đã phải rất cao. Nhưng thường thì rất hiếm người làm được như Liễu Hạ Huệ, tức là tuy đúng là vẫn cần cứu người, nhưng trong tư tưởng vẫn không tránh khỏi sinh ra tà niệm hoan ái nam nữ.


Lễ tiết theo tôi hiểu là quy chuẩn cho con người thông thường, vì tâm tính con người thông thường khó mà giữ được mình nếu nam nữ tùy tiện đụng chạm, lễ tiết quy phạm được đặt ra để bảo vệ con người tránh xa vào tà dâm mà hủy hoại đạo đức. Cũng tương tự như giới cấm ăn thịt trong nhà chùa vậy, nhưng trong một số hoàn cảnh đặc thù thì có trường hợp Tế Công vẫn ăn thịt, tôi học Pháp thì hiểu ăn thịt hay không không phải vấn đề, vấn đề là tâm chấp trước vào thịt có buông bỏ được không? Tất nhiên, có nhiều người tu luyện đến ngay cả tiêu chuẩn làm người cũng không nổi, nhưng lại hay lấy vấn đề này ra để che đậy cho dục vọng sắc dục không bỏ đi được, lấy cớ đó để tùy tiện đụng chạm người khác giới thì đó lại là vấn đề khác. Đó là cố tình bôi nhọ danh dự người tu, bôi nhọ Đại Pháp. Họ tưởng che đậy trong tư tưởng, lừa được Sư phụ và chư Thần, nhưng Thần nhìn rất rõ ai tu thật ai tu giả.


v..v


Ngày nay thì sa đọa hẳn:


- Do ảnh hưởng của nữ quyền, nam và nữ bình đẳng và đều đi làm tiếp xúc với nhau hằng ngày, văn phòng công sở hay thậm chí quân nhân cũng lẫn lộn nam và nữ làm việc cùng phòng với nhau. Từ đó dễ kích phát dâm dục, dẫn đến ngoại tình.



- Trai gái được cho học chung phòng từ bậc mẫu giáo đến tận cao học.


- Phụ nữ xuất hiện tùy tiện bên ngoài, kể cả ở gia đình gia giáo và có điều kiện.


- Nam nữ khám chữa bệnh có thể coi là loạn bậy, bác sỹ nam có thể nhìn rõ hết thân thể của bệnh nhân nữ, nam nữ có thể nằm trị bệnh ở chung buồng, khi khám bệnh thì bác sỹ nam có thể tùy ý sờ soạng và đụng chạm cơ thể bệnh nhân nữ.


Tôi có nghe một vụ việc - Câu chuyện một cô gái 26 tuổi ở Hà Nội bị bạn trai đòi chia tay sau khi đi khám khối u ở vòng 1 và để bác sĩ nam thăm khám trực tiếp (ý là sờ soạng ngực của cô gái). Thực chất đây là hành vi được xem là dính vào nam nữ bất chính, là trọng tội và có thể bị xử tử nếu ở các triều đại cũ trước đây. Nhưng trong giai đoạn cận đại sa đọa đạo đức hiện nay, xã hội lại cho đó là thiếu cảm thông, ghen tuông cực đoan và không tôn trọng quyền của phụ nữ.


2. VỀ HÔN NHÂN


Thời xưa, nam nữ hôn nhân được quy chuẩn rất nghiêm ngặt. Các gia đình lựa chọn hôn nhân dựa trên trình độ về nhận thức (giáo dục, nhân cách) cũng như sự tương đồng về điều kiện kinh tế. Gọi chung là môn đăng hộ đối. Họ coi rất nhẹ cái gọi là tình yêu tự do nam nữ, bởi đó là thứ được xem là mầm mống kích phát dâm dục, mà thực chất nhìn thời cận đại khi chứng kiến giới trẻ vì thất tình trong yêu đương mà chém giết nhau là có thể thấy được hậu quả.


Có một vài đặc điểm:


- Nam nữ là không biết mặt nhau trước khi kết hôn, tất nhiên không tuyệt đối, có một số là vẫn từng có thể biết trước mặt nhau vì một số nguyên nhân đặc thù. Những chuyện quan hệ trước khi kết hôn, thậm chí có thai thì gọi là thất tiết, tư thông, thất trinh, làm nhục gia phong, người nữ thường sẽ bị đuổi khỏi gia môn, nhiều người nữ sau đó vì sinh kế mà thường tự bán mình thành nô tỳ hoặc thành kỹ nữ ả đào.


- Đều có rất nhiều bước thăm dò như qua mai mối, sau đó nếu 2 bên ưng chuẩn mới tiến đến lễ ăn hỏi, rước dâu, lễ bái thiên địa, cao đường (phụ mẫu) và phu thê bái lẫn nhau. Đây là quy chuẩn để báo lên không chỉ người dân xung quanh mà còn là với Thánh Thần, gia tiên của hai bên, sau đó mới là cha mẹ và bái lẫn nhau. Tức là đều phải có Thánh Thần chứng giám chứ không phải tùy tiện đến ăn ở với nhau.



- Nữ nhân sau khi lấy chồng thường có những dấu hiệu bên ngoài để cho người khác biết đã thành hôn. Trước khi lấy chồng thì thường tóc thả dài, tết bím đơn giản, nhưng sau khi lấy chồng thì búi tóc cao có cài trâm/thoa/lược cài. Về xưng hô cũng khác, thường gọi là “nương tử”, “phu nhân”, “thái thái”, “tức phụ” v..v


- Nếu chồng chết thì phụ nữ thường thủ tiết theo chồng chứ không tái giá.


- Sau khi kết hôn, người nữ rất hạn chế giao tiếp với người khác phái khác ngoài chồng (hoặc người thân). Họ ít ra ngoài một mình, ít tiếp khách nam, không giao tiếp trực tiếp với người nam khác mà thường chuyển lời qua trung gian. Kể cả khi trong trường hợp buộc phải tiếp xúc với người nam lạ, họ cũng thường phải có mặt của chồng, cử chỉ đoan chính, không cười đùa, không tùy tiện liếc nhìn, quần áo phải dài và kín đáo không để hở da – nếu để hở da vai, lộ cổ chân v..v thì sẽ bị xem là thiếu lễ tiết, có hành vi gợi dục lăng loàn.


- Chuyện nội bộ gia đình không bao giờ đem nói với người ngoài, có mâu thuẫn gì thì nội bộ gia đình tự tìm cách giải quyết. Điều này một phần để gìn giữ danh tiếng gia tộc, nhưng cũng để tránh có kẻ bên ngoài kích động mâu thuẫn vợ chồng để ly gián với mục đích bất hảo (ví dụ như dụ vợ/chồng người ta bất mãn với phối ngẫu để kích dẫn ngoại tình, tư thông). Họ xem đây là quan ải đạo đức mà cả vợ và chồng phải hợp sức mà vượt qua để gồng gánh gia đình chứ xem rất nhẹ cái gọi là tình yêu riêng tư hay dục vọng cá nhân.


Nhưng ở thời cận đại thì khác hẳn.


- Nam nữ trước khi kết hôn thì có thể đã tự do yêu đương nhiều người, có khi còn quan hệ tình dục nhiều lần, thậm chí có thai rồi bỏ âm thầm, xã hội vẫn không coi đó là thất tiết, thậm chí còn cổ vũ yêu đương tự do, thậm chí còn cổ xúy sống thử để phòng người yêu bị vô sinh.



- Kết hôn dần dần bị đơn giản hóa, thậm chí không cần thông báo gia tiên, chỉ đơn giản là ra phường cầm hộ khẩu đăng ký, mời vài người thân đến dự tiệc là xong. Không hề xem trọng gì đến vấn đề hôn nhân.


- Việc ly hôn – tái hôn – ly hôn rồi lại tái hôn như cơm bữa, có người có nhiều đời vợ/chồng, có nhiều con riêng mà xã hội vẫn coi đó là bình thường.


- Phụ nữ sau khi kết hôn, tùy tiện ăn mặc và giao tiếp với người nam khác không phải chồng mình, có thể hẹn đi ăn đi uống coffee với người nam không phải chồng mình với nhiều lý do (hẹn đối tác, gặp bạn bè, tiệc đồng niên v..v), họ ăn nói cười đùa không cần giữ kẽ, có thể liếc mắt đưa tình, thậm chí có người còn nói dối rằng bản thân chưa kết hôn để tìm bạn tình.


- Phụ nữ/đàn ông đem chuyện gia đình ra ngoài nói và chia sẻ tùy tiện, họ chán vợ/chồng hiện tại ra sao, mẹ chồng/nàng dâu bất hòa thế nào v..v. Đây chính là mầm mống của ly hôn và ngoại tình. Những kẻ bất hảo sẽ cố gắng phình to mâu thuẫn này lên, dưới cái gọi là nữ quyền thậm chí còn kích động ly hôn để tìm bến đỗ tốt đẹp hơn v..v.


3. VỀ ĂN MẶC VÀ KỸ NĂNG ỨNG XỬ


Thời xưa, quan niệm về cái đẹp luôn lấy tiêu chuẩn đạo đức làm nền tảng, đẹp ở đây chủ yếu thể hiện qua việc biết cách ăn mặc và cư xử, thiếu nữ chưa chồng thường bị gia phong quản rất chặt. Ví dụ:


- Ăn mặc phải kín đáo, hạn chế tiếp xúc với nam giới, tránh thư từ qua lại với nam giới khi chưa kết hôn.



- Trang phục phải đoan chính, không hở da thịt, không lộ phần cổ hay ngực, tay áo phải dài, váy/quần dài che thân không để lộ đùi hay bắp chân, thậm chí còn phải che quá nửa bàn chân.


- Tóc tai phải chải gọn, tết hoặc búi đơn giản, nếu chải tóc làm đẹp quá nổi (như kiểu nhuộm xoăn như hiện nay) thì sẽ bị coi là thiếu gia giáo, ham hư vinh, gợi dục, thất lễ.


- Phải nắm được kỹ năng may vá, thêu thùa, nấu cơm, quản lý chi tiêu gia đình, chăm sóc người già trẻ nhỏ, nói năng nhỏ nhẹ kính trên nhường dưới.


- Phụ nữ, đặc biệt thiếu nữ chưa chồng và phụ nữ thuộc gia đình khá giả, thường bị kiểm soát việc đi lại nhiều hơn nam giới; ra ngoài hay phải xin phép, báo cho gia đình biết, và nhiều khi có người đi cùng (đi chợ cùng mẹ/chị em/nha hoàn).


- Quan hệ bạn bè thân thiết, tự do giữa nam và nữ chưa kết hôn không được khuyến khích hoặc không được công nhận, hầu như không có khái niệm “bạn thân khác giới”. Nữ giới chưa kết hôn mà tùy tiện giao tiếp và đụng chạm với nam giới được coi là thiếu lễ tiết, thiếu gia giáo, không đoan chính, dễ dãi – sẽ ảnh hưởng nặng đến danh dự gia đình, khó lấy chồng.


Còn về thời nay khi đã bại hoại đạo đức:


- Nam nữ ăn mặc tùy hứng, nữ thì ăn mặc hở hang, hở vai hở ngực hở đùi, tùy tiện tiếp xúc đụng chạm thân thể với nam khi chưa kết hôn (với lý do bạn bè). Thực ra khái niệm bạn thân khác giới chính là sau khi sa đọa đạo đức mới xuất hiện, giữa nam với nữ chỉ có quan hệ vợ chồng, ngoài ra không có khái niệm bạn thân, vì bạn thân sớm muộn cũng kích phát hành vi dâm dục luyến ái. Nhiều người sau khi lấy vợ/chồng vẫn lấy lý do là đi ra ngoài đi chơi với bạn thân (có cả người khác giới), thực ra đó chính là hành vi sa đọa, buông thả.


- Nữ giới thích trang điềm lòe loẹt để thể hiện sức hút, dẫu có chồng hay chưa chồng cũng thích đi xăm môi, làm mi, nhuộm tóc, ăn mặc theo mốt khoe thân khoe dáng, đi giảm eo, đi tập gym giữ dáng. Đây chính là biểu hiện của sự bại hoại tư tưởng trong vấn đề nam nữ luyến ái, tâm sắc dục đã rất nặng.


- Kỹ năng quản lý gia đình yếu kém, nhiều phụ nữ còn không biết may vá, giặt giũ, nấu cơm, không biết quản lý chi tiêu gia đình. Họ đổ cho sự tiện lợi tiến bộ khoa học, có máy làm, không nấu ăn thì ra ngoài ăn hoặc đặt ship.


- Nữ nhân chưa kết hôn ra ngoài có khi không cần báo gia đình, đi chơi với bạn qua đêm một mình, có thể nhắn tin yêu đương thoải mái mà không cần giữ kẽ.


4. VỀ QUAN HỆ SINH HOẠT VỢ CHỒNG


Thời xưa nhìn nhận rằng quan hệ sinh hoạt quá độ giữa vợ và chồng sẽ làm suy giảm nguyên khí, ảnh hưởng đến sức khỏe và sức mạnh tâm trí, thái quá còn làm giảm thọ. Vì vậy ngay cả giữa vợ với chồng còn phải nhấn mạnh về “tiết dục”.


Ngay cả khi quan hệ vợ chồng cũng phải lựa nơi chốn phù hợp, lựa ngày trong tháng chứ không phải tùy tiện thích nơi nào thích lúc nào cũng làm (VD kiêng quan hệ vào mùng 1 và 15, giao thừa, giỗ tổ tiên, trước kỳ thi, trước khai trương, lúc bệnh, khi say rượu, khi đã mang thai, lúc giông bão v..v).


Một số gia đình gia giáo giữ tiêu chuẩn đạo đức còn tốt thì vợ chồng còn ngủ riêng, chỉ chung đụng khi vào những dịp đặc thù hoặc cần sinh đẻ. Vợ chồng đối đãi với nhau cũng có quy phạm, tôn trọng nhau như khách quý, cư xử nhã nhặn, giữ lễ với nhau như thuở mới cưới (tương kính như tân). Vợ chồng không nói lời khinh mạn nhau, không thô bạo, biết cư xử có chừng mực, giữ được nề nếp gia phong.


Chuyện vợ chồng sinh hoạt thì được coi là việc tế nhị không bao giờ để lộ ra, ngay cả ở bên ngoài thì người chồng và vợ cũng không thể hiện tình cảm công khai, chỉ khi về nhà tùy lúc mới biểu lộ ra.


Vợ chồng thời nay thì sinh hoạt quá độ, ngày nào cũng bắt quan hệ, đến mức người chồng suy kiệt sức khỏe, nơi chốn sinh hoạt thì tùy tiện, thậm chí không còn lựa chọn ngày, có những đôi còn quan hệ ngay trong từ đường hay nơi tôn nghiêm.


Đối đãi với nhau dễ khinh bạc, thậm chí còn bạo lực gia đình. Vợ chồng đối xử với nhau không giữ lễ, tùy tiện cợt nhả chửi bới, nam không coi vợ ra gì, vợ cũng không coi nhà chồng ra gì. Chuyện sinh hoạt vợ chồng có thể đem ra công khai chia sẻ ở nơi sở làm hay bạn bè mà không hề e ngại gì. Vợ chồng khi ra ngoài có thể tùy tiện thể hiện tình cảm (ôm ấp, hôn hít, sờ soạng v..v). Xã hội bại hoại thời nay coi những hành vi như vậy là bình thường.


5. VỀ VẤN ĐỀ ỨNG XỬ VỚI CÁC TÁC PHẨM VĂN HÓA


Thời xưa, những tác phẩm văn thơ, nhạc họa mà có nội dung kích động, xúi giục nam nữ bộc phát sắc tình, kích động tình yêu nam nữ hoan ái, tự do yêu đương mùi mẫn hay cổ xúy tái giá v..v đều bị coi là tác phẩm rác rưởi và cấm xem lẫn cấm lưu hành. Đọc những thứ này sẽ làm ảnh hưởng đến tâm trí nam nữ, gieo vào đầu họ những ý nghĩ lệch lạc, từ đó dễ dẫn đến sa đọa về hành vi lời nói sau này.


Người ta khi xem xét nhân phẩm một người khi xưa sẽ hỏi họ về những đầu sách mà người đó chọn đọc, nếu là những tác phẩm kính ngưỡng Thần Phật, tu luyện, sách Thánh nhân dạy làm người hay trị quốc thì đều sẽ đánh giá cao. Nhưng nếu mà thấy họ đọc toàn dâm thư, sưu tầm toàn tranh ảnh mỹ nhân ăn mặc gợi dục thì sẽ đánh giá rất tệ về nhân cách của người đó.


Thời nay thì sa đọa càng không phải bàn, nam nữ thích nghe nhạc gợi tình, nhạc càng nói về tình yêu nam nữ càng thích nghe, thích sưu tầm sách/truyện/tranh ảnh mà có nội dung kích dục như ảnh nữ nhân mặc hở hang, nam nhân lộ múi bụng; Thích xem các bộ phim ngôn tình đề cao yêu đương trai gái, thích hâm mộ idol nam nữ. Họ xem việc tiếp xúc với các sản phẩm trụy lạc này mới là phong cách, mới là chính đáng, mới là "bình thường" chứ không phải "tâm thần". Tất nhiên, xem và nghe những thứ kích dục này nhiều thì tư tưởng của họ cũng liên tục nạp và bành trướng tâm sắc dục, nó sẽ kích phát họ biểu hiện ra ở hành vi như ăn mặc lố lăng để thu hút ánh nhìn người khác phái, ngoại tình cặp bồ v..v


6. VỀ VẤN ĐỀ ỨNG XỬ VỚI THÁNH THẦN


Con người thời xưa rất biết tôn kính chư Thần, những chuyện trọng đại như hôn nhân, làm nhà đều phải kính lễ chư Thần. Đối với Thần là chỉ có lòng chân thành kính ngưỡng. Những chuyện đem vấn đề nam nữ ra đối đãi bất kính với chư Thần là gần như không có.


Thời xưa trong Phong thần diễn nghĩa, vua Trụ chính vì bất kính chư Thần, dám đem lời thơ gợi dục nam nữ để dâng lên nữ Oa, việc làm này đã khiến nữ Oa nổi giận và sai Hồ ly Đát Kỷ đến phá vua Trụ, khiến vua Tru nước mất nhà tan. Đây cũng là một ví dụ điển hình nhất của việc con người dám đem chuyện nam nữ bất kính với chư Thần.


Nhưng hãy xem ngày nay sa đọa ra sao? Ngay từ trong giới người tu thì chuyện bại hoại nam nữ diễn ra nhan nhản, thậm chí diễn ra ngay tại những nơi chùa chiền bái Phật. Có nơi còn đến lễ đền chùa để xin tìm bạn trai, tìm bạn gái. Có nơi còn treo ảnh tượng nam nữ song tu trong Mật tông (vốn là hình thức mật tu không thể truyền bá công khai nơi xã hội) với hình tượng Phật lên phòng khách của nhà. Nam nữ đi lễ chùa ăn mặc phóng túng, cợt nhả chụp ảnh tự sướng đăng facebook. Nhiều gái ngành trên mạng đăng avatar hình Phật nhưng đằng sau thì vẫn nhắn tin mời chào khách. Rất nhiều người lợi dụng văn tài, thơ tài để đem nhân tính hóa chư Thần, họ biến chư Thần cũng giống người có yêu đương loan ái, thậm chí các chủ đề/truyện tranh/phim ảnh mà có tình tiết Thần đấu nhau vì tình là rất khoái trá tìm xem.


______



Nói ra sự phân biệt về vấn đề nam nữ giữa thời xưa và nay để nói lên một vấn đề: Con người ngày nay đã quá bại hoại, thực sự họ đã cách quá xa khỏi tiêu chuẩn làm người thông thường mà Thần đặt ra, mà đã thấp hơn cảnh giới con người thì là cảnh giới gì? Chính là súc sinh, dưới súc sinh chính là gì? Là Quỷ dưới địa ngục. Hay nói chính xác hơn, rất nhiều người trong thời cận đại hiện nay họ về mặt tư tưởng là đang ở dưới địa ngục rồi, thậm chí còn không bằng súc sinh, chỉ là họ vẫn còn đang khoác lên mình bộ da người mà thôi. Con người trong xã hội hiện nay phóng túng dục vọng, trên Tivi hàng ngày đều chiếu các bộ phim kích động dâm dục, nam thanh nữ tú thì quay video tiktok khoe mông khoe dáng, phụ nữ ra đường ăn mặc khiêu gợi, tình tay ba lên ngôi, ngoại tình trở thành xu hướng thời thượng v..v dần dần con người đã tự biến mình thành ngang với súc vật mà không tự biết.


Trong cái xã hội bại hoại này, người nam và nữ không biết hành vi của mình là không phải con người, họ vẫn thấy đẹp, vẫn thấy hợp mốt, vẫn thấy sành điệu, thậm chí còn cho rằng sống như thế mới là văn minh tiến bộ, mới là nam nữ bình đẳng, mới là thể hiện cá tính, mới là tận hưởng cuộc sống. Nếu bảo họ quay lại sống như tiêu chuẩn nam nữ thời xưa thì họ sẽ có thể cười lớn, chê bai đó là lối sống quê mùa, cổ hủ, giết chết sự tự do yêu đương nam nữ, coi nhẹ quyền lợi của phụ nữ v..v


Con người dẫu có suy bại thế nào thì tiêu chuẩn làm người vẫn ở đó, và trong con mắt của Thần hễ con người không còn đạt tiêu chuẩn thì sẽ cần phải đào thải, tựa như một khối ung nhọt phải loại bỏ. Người tu hiện nay phải tu luyện và sinh sống trong quần thể xã hội đã suy bại đến cực điểm này là rất khó. Không những phải đạt được tiêu chuẩn làm người ở mức cơ bản mà còn phải tiến xa hơn nữa, trở thành người tốt hơn mức bình thường và tiến dần đến người siêu thường đạt đến tiêu chuẩn của Thần ở các cảnh giới khác nhau. Những tiêu chuẩn làm người này rốt ráo cũng chỉ để tham khảo, cốt cũng chỉ để người tu nhìn ra sự bại hoại trong hành vi nam nữ từ xưa đến nay, là để tự răn mình và quy chính bản thân tránh sa vào lối sống băng hoại hiện nay mà để lại vết đen trong tu luyện, còn chỉ đạo tu luyện vẫn là phải dựa vào Đại Pháp, chứ không phải dựa vào tiêu chuẩn làm người này, mọi người cần phải sắp xếp tư tưởng cho chính.


Phạm tà dâm không chỉ đơn giản là có hành vi tà dâm rõ ràng ra bên ngoài (tùy tiện đụng chạm da thịt, quan tâm thái quá với người khác giới không phải là vợ/chồng hợp pháp, thủ dâm v..v) mà ngay cả việc dung dưỡng những tư tưởng nam nữ hoan ái bất chính trong đầu cũng đã được coi là phạm tà dâm rồi. Bởi theo tôi học Pháp thì hiểu thì hành vi là do tư tưởng chủ đạo, nếu trong đầu một người mà toàn các tư tưởng dâm dục thì việc họ phạm tà dâm chỉ là chuyện sớm muộn. Trừ phi người đó liên tục phản đối, bài trừ các chấp trước hay tư tưởng dâm dục phát sinh ra ở trong đầu, phân rõ đó không phải là họ nghĩ (mà là các tư tưởng chấp trước dâm dục đó nghĩ) thì mới tính đó không phải là phạm tà dâm.


Nhiều học viên hiện nay cá nhân tôi thấy họ rất mất cảnh giác, thậm chí không coi trọng gì trong vấn đề sắc dục nam nữ. Trong các cuộc nói chuyện thì họ quay sang trêu ghẹo lẫn nhau, tùy tiện đụng chạm lẫn nhau, xong rồi thì lấy cớ chứng thực Pháp để chụp ảnh hở mông khoe dáng đăng lên mạng xã hội rồi các học viên còn thi nhau vào khen đẹp xinh, tệ hơn là học viên còn ngoại tình với nhau khi còn làm chung hạng mục (cả 2 bên đều đã có gia đình), còn những ca quan hệ tình dục khi chưa phải là vợ/chồng hợp pháp thì phải nói là diễn ra nhan nhản.


Họ không hiểu rằng, hễ họ dính vào phương diện này, họ đã và đang tự mình bôi nhọ danh dự người tu Đại Pháp, họ đang tự hạ thấp mình xuống ngang với súc vật. Vậy chư Thần có để một sinh mệnh ngang súc vật sau này tu thành và lên vị trí cao trong vũ trụ mới không? Đó chính là sỉ nhục họ, vì thế tôi học Pháp thì hiểu rằng chư Thần sẽ tìm mọi cách để ép người tu nào phạm tội tà dâm sẽ hoặc là bỏ tu, hoặc là bị tà ngộ đến mức thực hiện nhiều hành vi loạn Pháp (kiếm tiền trong học viên, tuyên truyền lời lẽ tà ngộ trong cộng đồng, nhìn thiên mục thấy cảnh giả và tưởng mình đã thành đấng này đấng nọ rồi v..v) để ép Sư phụ phải buông bỏ những cá nhân không đủ phẩm cách đó.


Vì Thần xem rất nặng phương diện nam nữ này nên với người tu họ sẽ soi rất kỹ từng hành vi, cử chỉ, lời nói, cách ăn mặc, đến cả tư tưởng. Nếu ai tu không tốt, thuận theo thói đời bại hoại mà rơi rớt, còn cho đó là hành vi bình thường giống bao người thì đó chính là bôi nhọ danh dự người tu Đại Pháp, tội rất lớn, chính là vết đen khó bỏ. Tu luyện giữa xã hội ô trược này tuy khó, nhưng tôi học Pháp thì hiểu rằng vẫn còn đường để đi, nhưng học viên phải đi rất chính, đi hơi sai mà dính vào vấn đề nam nữ tà dâm này một chút thôi là có thể bao công sức tu luyện trước đây là hoài phí rồi.

Moitruongphapluancongvn.org © 2017-2026

Mọi thông tin trên website này chỉ có giá trị tham khảo cho học viên Pháp Luân Công tại Việt Nam, là thể hiện quan điểm, nhìn nhận của chúng tôi dựa trên thể ngộ tại tầng sở tại còn nông cạn (Đại Pháp còn rất nhiều nội hàm cao thâm hơn nữa) cùng với quá trình quan sát và tiếp xúc trực tiếp với môi trường tu luyện, được phân tích và tổng hợp từ nhiều kênh. Các học viên tất nhiên phải lấy Đại Pháp mà Sư Phụ Lý Hồng Chí giảng làm thầy và lấy sự tự mình thực tu dựa trên sự chỉ đạo của Đại Pháp để đề cao tâm tính và chứng thực Pháp chứ không phải lấy những gì trên Website này làm chỉ đạo. Các thông tin trên Website này theo chúng tôi thấy thì chỉ có tính khuyến nghị, cảnh báo các hành vi lừa đảo, phá hoại Đại Pháp và tham khảo về thực trạng môi trường tu luyện hiện nay để học viên nâng cao nhận thức, từ đó tự học viên dần hình thành cho mình khả năng tư duy để có thể suy xét một cách lý trí xem điều gì nên và không nên làm, Website này tuyệt đối không có mục đích định hướng dẫn dắt ai hết. Mỗi học viên cần tự quyết định con đường tu luyện của chính mình dựa trên sự chỉ đạo của Đại Pháp. Khuyến nghị học viên nên ghi rõ nguồn website này khi trích dẫn hay đăng ở các nơi khác phòng trường hợp có sự thay đổi, bổ sung về nội dung bài viết trong tương lai. Mọi ý kiến thắc mắc hay góp ý xin gửi vào mục Liên Hệ ở đầu Website.

© Copyright
bottom of page