top of page

Bài học về việc đừng ỷ lại vào người ngoài trong việc chứng thực Pháp: Những góc khuất đằng sau nền dân chủ tự do của Hoa Kỳ

Ảnh của tác giả: Editorial Board
Editorial Board
4 giờ trước
36 phút đọc

[05/11/2026] Đông Lai


Lưu ý: Khi nói về Hoa Kỳ (Mỹ) ở đây là nói về giới chính khách (của cả 2 Đảng Cộng Hòa và Dân Chủ nói chung) chứ không nói về người dân Mỹ, cũng giống như khi nói về Trung Quốc là nói về ĐCSTQ chứ không phải nói toàn bộ người dân Trung Quốc. Người dân của cả 2 quốc gia đó (cũng như một bộ phận giới chức chính phủ còn lương tri) cũng chỉ là nạn nhân bị lừa mà thôi.

_________


Nhiều người có lẽ vẫn tưởng rằng Mỹ là quốc gia dân chủ tự do, quốc gia tư bản chủ nghĩa và chống lại chủ nghĩa Cộng sản. Đó là trên bề mặt truyền thông thì rất dễ để thấy các giới chức thượng hạ nghị sỹ lưỡng Đảng ở Hoa Kỳ lên tiếng nói về vấn đề này. Nhưng nói là một chuyện, làm ra sao thì lại là chuyện khác. Giới chức Hoa Kỳ từ lâu đã rất nổi tiếng qua chính sách đối ngoại "nói một đằng, làm một nẻo".



Bài viết này tôi xin dẫn chứng qua lịch sử để có thể thấy qua phần nào, bài viết gồm 4 mục chính:


  • TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ CAN THIỆP VÀ HỖ TRỢ ĐCSTQ (1947–2001)

  • PHỨC HỢP CÔNG NGHỆ - TƯ BẢN MỸ VÀ "LÁ CHẮN VÀNG" TRUNG QUỐC

  • TRÒ TUNG HỨNG CỦA GIỚI LẬP PHÁP LƯỠNG ĐẢNG VÀ GAME SHOW CHÍNH TRỊ QUANH CUỘC BỨC HẠI HỌC VIÊN PHÁP LUÂN CÔNG

  • TÍNH 2 MẶT TRONG LỊCH SỬ CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO CỦA HOA KỲ

__________


CHÍNH SÁCH HAI MẶT CỦA HOA KỲ ĐỐI VỚI TRUNG QUỐC VÀ HỌC VIÊN PHÁP LUÂN CÔNG


Xuyên suốt lịch sử đối ngoại hiện đại, chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc luôn thể hiện sự mâu thuẫn sâu sắc giữa lời nói và cách hành xử: một bên là các tuyên ngôn công khai về giá trị nhân quyền, tự do tôn giáo và dân chủ, bài xích chủ nghĩa Cộng sản; bên còn lại là sự tính toán thực dụng nhằm bảo vệ lợi ích địa chính trị, duy trì quan hệ kinh tế tập đoàn và kiểm soát rủi ro ngoại giao, thậm chí còn cố tình dung dưỡng các chế độ độc tài.


  1. TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ CAN THIỆP VÀ HỖ TRỢ ĐCSTQ (1947–2001)


  • Sự Quay lưng với Quốc Dân Đảng và Bước ngoặt Nội chiến (1947–1949)


Sự hình thành chính quyền Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1949 không hoàn toàn là một biến cố biệt lập, mà chịu sự tác động trực tiếp từ sự thay đổi chính sách ngoại giao của Washington trong giai đoạn Nội chiến Trung Quốc sau Thế chiến II.



Trong giai đoạn này, giới chuyên gia và truyền thông Mỹ (với sự tham gia của các nhà phân tích như Owen Lattimore và John Fairbank) đã phát động các chiến dịch truyền thông mô tả lực lượng của Mao Trạch Đông như những "nhà cải cách ruộng đất" ôn hòa. Đồng thời, các cố vấn ngoại giao Mỹ liên tục tạo sức ép buộc chính quyền Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch phải đàm phán thành lập chính phủ liên hiệp với Mao Trạch Đông, làm suy yếu vị thế chính trị và quân sự của phe quốc gia.


Đỉnh điểm của sự can thiệp này diễn ra vào năm 1947, khi chính quyền Mỹ chính thức phản bội Tưởng Giới Thạch thông qua việc tuyên bố lệnh cấm vận vũ khí đối với Tưởng Giới Thạch và từ chối cung cấp đạn dược. Tướng George Marshall thậm chí tuyên bố đã tước vũ khí của 39 sư đoàn Quốc Dân Đảng chỉ bằng một nét bút.


George Marshall (ngoài cùng bên trái) và vợ chồng Tưởng Giới Thạch
George Marshall (ngoài cùng bên trái) và vợ chồng Tưởng Giới Thạch

Trong bối cảnh quân đội Mao Trạch Đông tiếp quản kho vũ khí khổng lồ của Nhật Bản do Liên Xô bàn giao tại Mãn Châu, lực lượng Quốc Dân Đảng rơi vào tình trạng kiệt quệ đạn dược và tan rã, dẫn đến việc phe Cộng sản chiếm toàn bộ đại lục năm 1949. Đánh giá về sự kiện này năm 1949, Hạ nghị sĩ John F. Kennedy đã công khai khẳng định rằng trách nhiệm thuộc về chính sách đối ngoại của Mỹ và Trung Quốc đã "bị đánh mất ngay tại Washington chứ không phải ở Bắc Kinh". Đây cũng là tiền đề cho rằng ĐCSTQ được chính dàn lãnh đạo Mỹ thời bấy giờ cố tình hậu thuẫn dựng lên. Bởi nếu không cố tình gây khó dễ cho Quốc Dân Đảng thì chưa chắc ĐCSTQ đã có lợi thế để nắm lấy Trung Quốc.


Tham khảo dẫn chứng: Bài Phát biểu của Hạ nghị sĩ John F. Kennedy tại Bữa tiệc Tuyên dương Philip J. Durkin, Salem, Massachusetts, ngày 30 tháng 01 năm 1949


Trong vài ngày qua, chúng ta đã nhận ra quy mô của những thảm họa đang giáng xuống Trung Quốc và Hoa Kỳ. Mối quan hệ của chúng ta với Trung Quốc kể từ khi Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc là một câu chuyện cay đắng, và điều tối quan trọng là chúng ta phải truy cứu và vạch trần những ai phải chịu trách nhiệm cho tình thế hiểm nghèo hiện tại của chúng ta.


Khi nhìn vào sự dễ dàng mà phía Cộng sản đã lật đổ Chính phủ Quốc dân của Tưởng Giới Thạch, chúng ta không khỏi bàng hoàng khi nhớ lại rằng vào ngày 22 tháng 11 năm 1941, Ngoại trưởng của chúng ta, Cordell Hull, đã trao cho Đại sứ Nomura một tối hậu thư với nội dung: (1) Chính phủ Nhật Bản sẽ rút toàn bộ lực lượng bộ binh, hải quân, không quân và cảnh sát khỏi Trung Quốc và Đông Dương; (2) Hoa Kỳ và Nhật Bản sẽ không hỗ trợ về quân sự, chính trị, kinh tế cho bất kỳ chính phủ hoặc chế độ nào ở Trung Quốc ngoại trừ Chính phủ Quốc dân Dân quốc Trung Hoa.


Tuyên bố này đã khẳng định rõ ràng rằng độc lập của Trung Quốc và sự ổn định của Chính phủ Quốc dân là mục tiêu cốt lõi trong chính sách Viễn Đông của chúng ta.


Việc tuyên bố này cùng các tuyên bố chính sách khác của chúng ta ở Viễn Đông đã trực tiếp dẫn đến cuộc tấn công Trận Châu Cảng là điều ai cũng biết. Và có thể nói rằng chúng ta đã gần như chủ động bước vào cuộc chiến với Nhật Bản nhằm bảo vệ sự độc lập của Trung Quốc và các quốc gia phía nam nước này. Hãy đối chiếu chính sách đó — vốn đạt đến đỉnh cao vào năm 1943 khi Hoa Kỳ và Anh đồng ý tại Cairo về việc giải phóng Trung Quốc và trả lại cho quốc gia này Mãn Châu cùng toàn bộ các vùng lãnh thổ do Nhật chiếm đóng khi chiến tranh kết thúc — với chính sách hỗn loạn và dao động mà chúng ta đã thực thi kể từ ngày đó.


Tại Hội nghị Yalta năm 1945, một Roosevelt đang lâm bệnh, theo lời khuyên của Đại tướng Marshall và các Tham mưu trưởng khác, đã dâng Quần đảo Kuril cũng như quyền kiểm soát nhiều cảng chiến lược của Trung Quốc như Cảng Arthur và Đại Liên cho Liên Xô.


Theo cựu Đại sứ Bullitt trên tạp chí Life năm 1948: "Dù phần trách nhiệm thuộc về Roosevelt hay Marshall là bao nhiêu, lợi ích sống còn của Hoa Kỳ đối với sự toàn vẹn độc lập của Trung Quốc đã bị hy sinh, và nền móng cho tình hình cay đắng hiện tại ở Viễn Đông đã được đặt ra."


Khi quân đội Liên Xô rút khỏi Mãn Châu, họ đã để lại vùng này cho lực lượng Cộng sản Trung Quốc kiểm soát cùng với một lượng khổng lồ khí tài quân sự của Nhật Bản. Trong giai đoạn này bắt đầu diễn ra sự chia rẽ lớn trong quan điểm của các nhà ngoại giao chúng ta về việc nên hỗ trợ Chính phủ Tưởng Giới Thạch, hay ép Tưởng Giới Thạch phải đưa người của Cộng sản Trung Quốc vào chính phủ để thành lập một chính phủ liên hiệp như là cái giá cho sự trợ giúp của chúng ta.


Khi Đại sứ Patrick Hurley từ chức vào năm 1945, ông đã phát biểu: "Các nhà ngoại giao chuyên nghiệp liên tục báo cho phía Cộng sản Trung Quốc biết rằng những nỗ lực của tôi nhằm ngăn chặn sự sụp đổ của Chính phủ Quốc dân không đại diện cho chính sách của Hoa Kỳ. Sự phản đối chính yếu đối với việc hoàn thành sứ mệnh của chúng ta đến từ các nhà ngoại giao sự nghiệp người Mỹ, Đại sứ quán tại Trùng Khánh và các vụ phụ trách Trung Quốc và Viễn Đông thuộc Bộ Ngoại giao."


Khi tình hình bất ổn ở Trung Quốc bắt đầu trở thành mối bận tâm lớn tại Hoa Kỳ, Tướng Marshall đã được cử đi theo yêu cầu của Tổng thống Truman với tư cấp Đặc sứ sang Trung Quốc để thực hiện một sự thỏa hiệp và tiến tới thành lập một chính phủ liên hiệp.


Trong bài báo của Đại sứ Bullitt trên tạp chí Life, ông viết và tôi xin trích dẫn: "Vào đầu mùa hè năm 1946, nhằm ép Tưởng Giới Thạch đưa người của Cộng sản vào chính phủ Trung Quốc, Tướng Marshall đã chỉ đạo Bộ Ngoại giao từ chối cấp giấy phép xuất khẩu đạn dược sang Trung Quốc. Vì vậy, từ mùa hè năm 1946 đến tháng 2 năm 1948, không một quả pháo hay một viên đạn nào được giao cho Trung Quốc để sử dụng cho số vũ khí trang bị kiểu Mỹ của họ. Và trong lĩnh vực hàng không, Marshall cũng đã phạm sai lầm tương tự; hậu quả của việc ông phá vỡ hợp đồng của chính phủ Mỹ về việc giao cho Trung Quốc số máy bay đủ duy trì 8⅓ đoàn không quân là trong suốt ba năm, không một máy bay chiến đấu hay máy bay ném bom nào được giao cho Trung Quốc – từ tháng 9 năm 1946 đến tháng 3 năm 1948." Như chính Marshall đã thú nhận vào tháng 2 năm 1948 trước Ủy ban Đối ngoại Hạ viện, điều này "về bản chất là một lệnh cấm vận cung cấp quân sự."


Năm 1948, chúng ta phân bổ 468.000.000 USD cho Trung Quốc, chỉ bằng một phần nhỏ so với những gì chúng ta gửi sang Châu Âu, và trong số 468.000.000 USD đó chỉ có 125.000.000 USD là dành cho mục đích quân sự. Hồi kết đã đến gần; sự giúp đỡ quá ít và quá muộn; và Chính phủ Quốc dân đang phải lao vào một cuộc sinh tử chiến với các binh đoàn cộng sản đang tràn tới.


Vào ngày 20 tháng 11 năm 1948, cựu Thượng nghị sĩ D. Worth Clark, người từng được Ủy ban Ngân sách Thượng viện cử đi thực hiện một sứ mệnh đặc biệt tới Trung Quốc, đã nêu trong báo cáo trình lên ủy ban đó rằng: "Việc viện trợ nhỏ giọt sẽ không còn cứu nổi một Trung Quốc đang suy sụp khỏi chủ nghĩa cộng sản. Giờ đây phải là một chương trình toàn diện hoặc không gì cả, một quyết định phải dứt khoát 'đánh bắt hay thu lưới'."


Clark cho biết kết luận này đã được xác nhận bởi Đại sứ J. Leighton Stuart cùng các sĩ quan cấp cao của Quân đội Mỹ tại Trung Quốc.


Ngày 25 tháng 11 năm 1948, muộn mất ba năm, tờ New York Times đưa tin: "Ngoại trưởng George Marshall hôm nay cho biết chính phủ Mỹ đang xem xét sự hỗ trợ nào là phù hợp để cung cấp cho chính phủ Trung Quốc trong tình hình nguy cấp hiện tại.".


Đến ngày 21 tháng 12, một tiêu đề trên tờ Times ghi: "Quản trị viên ECA Hoffman, sau khi gặp Truman, tiết lộ việc đóng băng chương trình trị giá 70.000.000 USD tại Trung Quốc trước tình hình chiến sự bất ổn."


Sự thờ ơ, nếu không muốn nói là coi thường, mà Bộ Ngoại giao và Tổng thống dành cho phu nhân của người đứng đầu Chính phủ Quốc dân — người lúc đó đang chiến đấu cho một Trung Quốc tự do — Bà Tưởng Giới Thạch, là chương cuối cùng trong câu chuyện chua chát này.


Chính sách của chúng ta ở Trung Quốc đã gặt hái bão lốc. Sự khăng khăng liên tục rằng viện trợ sẽ không được cung cấp trừ khi một chính phủ liên hiệp với phía Cộng sản được thành lập là một đòn giáng chí mạng vào Chính phủ Quốc dân. Các nhà ngoại giao của chúng ta cùng các cố vấn của họ, những Lattimore và Fairbank, quá bận tâm đến những khuyết điểm của hệ thống ngoại giao ở Trung Quốc sau hai mươi năm chiến tranh và những câu chuyện tham nhũng ở cấp cao, đến mức họ đã đánh mất tầm nhìn về lợi ích to lớn của chúng ta đối với một Trung Quốc không cộng sản.


Đã có những người tuyên bố, và vẫn tiếp tục tuyên bố, rằng chủ nghĩa cộng sản Trung Quốc thực chất không phải là chủ nghĩa cộng sản mà chỉ là một phong trào nông dân tiến bộ không nhận chỉ thị từ Mát-xcơ-va.


Hãy nghe những lời trong báo cáo Bolton: "Học thuyết của nó tuân theo học thuyết của Lenin và Stalin. Các lãnh đạo của nó được đào tạo tại Mát-xcơ-va (trong số 35 lãnh đạo chính trị hàng đầu của Cộng sản Trung Quốc được liệt kê trong báo cáo, hơn một nửa từng dành thời gian hoặc học tập tại Mát-xcơ-va.) Chính sách và hành động, chiến lược và thuật của nó đều mang bản chất cộng sản. Phía Cộng sản Trung Quốc đã trung thành tuân theo từng bước ngoặt đường lối của Điện Kremlin suốt một thế hệ."


Đây là câu chuyện cay đắng về Trung Quốc, một quốc gia mà tự do của họ chúng ta từng chiến đấu để bảo vệ. Những gì các thanh niên trẻ tuổi của chúng ta đã cứu vớt, thì các nhà ngoại giao và Tổng thống của chúng ta lại hoang phí mất rồi.


Nguồn: Hồ sơ của John F. Kennedy. Hồ sơ Tiền Tổng thống. Hồ sơ Hạ viện, Hộp 95, "China: Salem, Massachusetts, 30 January 1949 and Congressional Record, 21 February 1949." Thư viện Tổng thống John F. Kennedy. (Link nguồn: JFKlibrary)


Dưới cái nhìn địa chính trị của giới chức hủ bại tại Hoa Kỳ, họ cần TẠO RA VÀ DUNG DƯỠNG các chế độ cộng sản và độc tài vì những lý do sau:


- Việc duy trì một đối thủ mang tính đe dọa (như một khối cộng sản hoặc chế độ độc tài quân sự) giúp Mỹ giữ vững vai trò "lãnh đạo thế giới tự do". Các đồng minh châu Âu, Đông Á sẽ phụ thuộc chặt chẽ vào chiếc ô an ninh và quân sự của Mỹ (như NATO, các hiệp ước song phương). Khi có mối đe dọa thường trực từ đối thủ, các đồng minh sẽ ít có động cơ hoặc khả năng tách ra thành các cực độc lập để cạnh tranh vị thế với Mỹ. Giống như cảnh sát ở một số nước đôi khi nuôi cả xã hội đen để người dân thấy cảnh sát còn có giá trị.


- Giúp giới chức Mỹ có thể duy trì ngân sách quốc phòng khổng lồ (để tiện tham nhũng). Một thế giới hòa bình tuyệt đối hoặc không có đối thủ đáng kể sẽ khiến việc duy trì ngân sách quốc phòng hàng trăm tỷ USD trở nên vô lý trước cử tri. Sự tồn tại của các chế độ đối đầu về nền tảng lập quốc (Tư bán vs Cộng sản) là lý do chính đáng nhất để chi tiêu cho quân sự, công nghệ vũ khí và duy trì hàng trăm căn cứ quân sự toàn cầu.


- Sự dễ đoán của các nhà độc tài hay cộng sản, vì các nước này thường lạc hậu, cần tiền và rất dễ bắt thóp. Trong nhiều trường hợp lịch sử (như ở Trung Đông, Nam Mỹ thời Chiến tranh Lạnh), các chính quyền độc tài dễ thương lượng và trao đổi lợi ích (dầu mỏ, khoáng sản, quyền khai thác) hơn các chính quyền dân chủ – vốn phải thông qua quốc hội, công luận và sự phản đối của dân chúng.


- Giúp duy trì vị thế của đồng USD. Việc neo giữ thương mại các tài nguyên chiến lược (đặc biệt là dầu mỏ) bằng đồng USD thông qua thỏa thuận với các quốc gia độc tài giúp Mỹ duy trì quyền lực tài chính bá chủ thế giới.


- Khai thác sự sợ hãi đối với một "chủ nghĩa" hoặc một "chế độ" độc hại từ bên ngoài luôn là bài toán chính trị hiệu quả để hợp nhất cử tri trong nước, thông qua các chính sách an ninh quốc gia và tăng cường quyền lực chính phủ.


Dư luận có xu hướng bỏ qua các sai sót nội bộ (tham nhũng, lạm phát, bất bình đẳng xã hội, bất cập trong chính sách y tế/giáo dục) để ưu tiên cho "an ninh quốc gia". Các tranh cãi nội bộ giữa các đảng phái thường bị dẹp sang một bên dưới cái mác "đoàn kết chống kẻ thù chung" (chống Cộng - giống chủ nghĩa yêu nước hay được sử dụng ở Trung Quốc). Sự bất mãn của cử tri dễ dàng được định hướng lại thành lòng yêu nước. Để chứng minh "mô hình của chúng ta là tốt nhất", cách nhanh nhất là chỉ ra một mô hình đối lập và gán cho nó sự tàn bạo hoặc kém hiệu quả.


Nếu không có các chế độ độc tài hay cộng sản làm vật đối chứng, người dân Mỹ sẽ so sánh cuộc sống của họ với một tiêu chuẩn hoàn hảo lý thuyết, từ đó mức độ phẫn nộ với những yếu kém của chính phủ Mỹ sẽ tăng cao hơn rất nhiều. Khi nền kinh tế gặp khủng hoảng hoặc chi tiêu công bị thâm hụt, việc đổ lỗi cho một mối đe dọa bên ngoài (ví dụ: cuộc chiến công nghệ, nguy cơ chiến tranh, đối thủ thao túng thị trường) giúp giới chức trách né tránh trách nhiệm quản lý yếu kém.


Do đó, để phải đến mức sử dụng và công khai nêu ĐCSTQ ra làm đối thủ, tạo thương chiến hay theo thang chiến tranh với Iran, hỗ trợ Ukraine trong cuộc chiến với Nga - thì lý do thực tế rất đơn giản: Sự thối nát và yếu kém của lưỡng Đảng ở Mỹ đã quá bốc mùi, người dân đã quá phát chán, họ cần phải tạo ra "cú hích" để thu hút sự chú ý của người dân trong nước ra bên ngoài để người dân không còn săm soi vào các lỗi yếu kém trong quản lý kinh tế của chính giới chức Mỹ nữa. Họ giả vờ kêu gào đánh ĐCSTQ, thương chiến hay tham gia chiến tranh là vì lợi ích sinh tồn chính trị của chính họ chứ không phải vì mục đích cao cả tốt đẹp gì đâu.


Học viên thấy ông chính trị gia Đảng nào đó hô hào chống Trung cộng, xong nhào ra ủng hộ chính trị cho ông ta, đả kích các chính khách bên Đảng đối lập, rồi tạo ra kẻ thù - quả thực là quá dại dột, quá bốc đồng và đúng là bị giới chính khách hủ bại của cả hai Đảng dắt mũi lợi dụng thành công cụ quần đi quần lại để đánh lạc hướng dư luận trong nội bộ nước Mỹ.


  • Ngoại giao hai mặt hậu sự biến Thiên An Môn (1989) và Tiến trình PNTR/WTO (2000–2001)


Sau sự kiện Thiên An Môn tháng 6/1989, trong khi công khai tuyên bố lên án và áp đặt các biện pháp hạn chế trao đổi cấp cao, chính quyền Tổng thống George H.W. Bush ("Bush cha") đã nhanh chóng triển khai kênh ngoại giao bí mật để bảo vệ quan hệ song phương:


Phái đoàn bí mật Brent Scowcroft (Tháng 7/1989): Chỉ chưa đầy một tháng sau sự kiện Thiên An Môn (ngày 1/7/1989), Cố vấn An ninh Quốc gia Brent Scowcroft và Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lawrence Eagleburger đã bí mật bay sang Bắc Kinh gặp Đặng Tiểu Bình. Phái đoàn trấn an rằng các tuyên bố trừng phạt công khai chỉ nhằm xoa dịu dư luận và Quốc hội Mỹ, hoàn toàn không nhằm cô lập chính quyền Trung Quốc.


Trích dẫn dẫn chứng tại bài viết: Một Tù nhân Chính trị Trẻ tuổi trong Bức tranh Toàn cảnh Nền Ngoại giao Mỹ - Trung Sau Thảm sát Ngày 4 tháng 6 (Nguồn: ChinaChange)


Vào ngày 1 tháng 7, Cố vấn An ninh Quốc gia của Tổng thống Bush là Brent Scowcroft, cùng với Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lawrence Eagleburger, đã bay đến Bắc Kinh. Chuyến đi bí mật đến mức ngay cả Đại sứ quán Mỹ tại Trung Quốc cũng không được thông báo. Để đảm bảo không ai phát hiện, chiếc máy bay vận tải quân sự C-141 chở phái đoàn đã được cải trang thành một máy bay thương mại thông thường bằng cách xóa bỏ các ký hiệu của Không quân. Máy bay đã bay liên tục 22 tiếng và tiếp nhiên liệu trên không để không phải hạ cánh xuống bất kỳ đâu trước khi tới đích. Phái đoàn tự mang theo thiết bị liên lạc riêng để Scowcroft không phải sử dụng thiết bị tại Đại sứ quán Mỹ ở Bắc Kinh. Trong thời gian ở Bắc Kinh, “không có quốc kỳ nào được treo tại các địa điểm diễn ra các cuộc họp, hội đàm hay yến tiệc, cũng như trên chiếc xe Scowcroft sử dụng hay tại khách sạn nơi ông lưu trú. Không có bản tin nào được phát đi về việc ông đến hay khi ông rời Bắc Kinh. Tất cả hình ảnh đều được… niêm phong làm tư liệu lịch sử.

Sau sự kiện ngày 4 tháng 6, Hoa Kỳ đã triệu hồi đại sứ của mình và Quốc hội đã thông qua các biện pháp trừng phạt. Theo Tiền Kỳ Thầm, Scowcroft đã nói với Đặng Tiểu Bình rằng Tổng thống Bush “cảm thấy bất an về điều này [biến động lớn nhất trong mối quan hệ Mỹ - Trung kể từ chuyến thăm Trung Quốc đầu tiên của Nixon] (trang 136), vì vậy ông đã chọn Scowcroft cho chuyến đi bí mật này để thiết lập liên lạc với các lãnh đạo Trung Quốc nhằm bảo vệ quan hệ Trung - Mỹ.” Scowcroft đã giải thích với các nhà lãnh đạo Trung Quốc về “những khó khăn mà Tổng thống Bush đang gặp phải, cũng như quyết tâm của ông Bush trong việc bảo vệ, khôi phục và cải thiện quan hệ Trung - Mỹ.”. Vào ngày 28 tháng 7, Tổng thống Bush đã gửi một bức thư bí mật khác cho Đặng Tiểu Bình: “Mặc dù Quốc hội Mỹ liên tục tìm cách ép buộc tôi phải cắt đứt các mối quan hệ kinh tế với Trung Quốc, tôi vẫn sẽ làm hết sức mình để giữ cho con thuyền không bị chao đảo quá mức.”

Nên mới nói giới chức chính trị tại Mỹ mồm thì luôn nhiệt tình kêu gào chống cộng sản - chẳng qua là vì lấy lòng cử tri, giữ hình ảnh và qua đó nắm cái ghế chính trị cho chắc, nhưng tư tưởng của họ lại thích đi đêm với cộng sản - hay nói một cách khác: họ thích được như các lãnh đạo cộng sản (vốn quyền lực tập trung, độc quyền) nhưng ở hoàn cảnh của họ thì không được - do thể chế dân chủ xiềng xích, do đó họ mới phải cố diễn ra vẻ là họ chống Cộng.


Mặc dù Quốc hội Mỹ gây sức ép hủy bỏ, chính quyền Bush (thuộc Đảng Cộng hòa) vẫn kiên quyết gia hạn Quy chế Tối huệ quốc (MFN - "Most-Favored-Nation") cho Trung Quốc suốt các năm 1990–1991, đồng thời mở đường cho Ngân hàng Thế giới (World Bank) tái cấp các khoản vay hàng tỷ USD cho Bắc Kinh.


Khi Trung Quốc có quy chế MFN từ Mỹ, hàng hóa Trung Quốc xuất khẩu sang Mỹ sẽ được hưởng mức thuế quan ưu đãi rất thấp (tương đương với các đối tác thương mại bình thường khác của Mỹ). Nếu Mỹ tước bỏ MFN, hàng hóa Trung Quốc sẽ lập tức bị áp mức thuế quan trừng phạt cao vọt (theo Đạo luật Thuế quan năm 1930). Điều này sẽ làm hàng hóa Trung Quốc mất sạch khả năng cạnh tranh tại Mỹ, giáng đòn tử hình vào ngành xuất khẩu đang non trẻ của Bắc Kinh lúc bấy giờ.


Xét về bản chất, quyết định này giống như việc Mỹ trao cho Trung Quốc một "tấm vé thông hành cao cấp" để bước vào sân chơi thương mại thế giới ở thời điểm Bắc Kinh đang đứng trước vực thẳm cô lập. Ngay sau sự kiện Thiên An Môn năm 1989, làn sóng phẫn nộ từ Quốc hội và công luận Mỹ lên đến đỉnh điểm; phe Dân chủ lẫn nhiều nghị sĩ Cộng hòa liên tục ép Nhà Trắng phải cắt đứt MFN để trừng phạt kinh tế, buộc Bắc Kinh phải trả giá. Nếu MFN bị hủy bỏ, thuế quan đối với hàng hóa Trung Quốc xuất sang Mỹ sẽ ngay lập tức bị đẩy lên mức kịch trần (từ vài % nhảy vọt lên 40% - 70%), biến các sản phẩm Made in China thành những mặt hàng đắt đỏ và hoàn toàn bị gạt ra khỏi thị trường tiêu dùng lớn nhất thế giới.


Mở đường vào WTO (2000–2001): Đến năm 2000, ngay sau khi ĐCSTQ ra tay đàn áp học viên Pháp Luân Công, thay vì lên án hay có biện pháp trừng phạt, chính quyền Mỹ lại chính thức thông qua Quan hệ Thương mại Bình thường Vĩnh viễn (PNTR) với Trung Quốc dưới thời Tổng thống Bill Clinton (Đảng Dân chủ), chính thức đưa Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2001.


  1. PHỨC HỢP CÔNG NGHỆ - TƯ BẢN MỸ VÀ "LÁ CHẮN VÀNG" TRUNG QUỐC


  • Vai trò Tiếp tay của Cisco Systems trong Hệ thống Giám sát "Lá chắn Vàng"


Một trong những bằng chứng rõ ràng nhất về sự can thiệp của tập đoàn tư bản Mỹ vào bộ máy kiểm soát của Trung Quốc là việc tập đoàn Cisco Systems, Inc. (trụ sở tại San Jose, California) tham gia xây dựng Dự án "Lá chắn Vàng" (Golden Shield) từ năm 2001.


Hồ sơ tòa án trong vụ kiện Doe I v. Cisco Systems, Inc. và bản tóm tắt pháp lý của Liên minh Tiền đồn Điện tử (EFF) xác minh rằng Cisco không đơn thuần bán các thiết bị mạng thương mại thông thường theo kiểu giao dịch đặt hàng, mà đã chủ động thiết kế tùy chỉnh hệ thống theo yêu cầu của Bộ Công an Trung Quốc và Phòng 610:


- Thư viện nhận diện hành vi (Signatures): Xây dựng thư viện mô hình hoạt động internet của học viên Pháp Luân Công để hệ thống tự động nhận diện và cảnh báo thời gian thực.


- Cơ sở dữ liệu tích hợp hồ sơ trọn đời: Thiết kế cơ sở dữ liệu trung tâm lưu trữ thông tin cá nhân, địa chỉ, tài chính, gia đình và lịch sử thẩm vấn/bắt giữ của từng học viên, phục vụ cho quá trình cưỡng bức từ bỏ đức tin.


- Hệ thống giám sát video và nhận diện hình ảnh: Phát triển công nghệ phân tích video và hình ảnh mà Cisco quảng cáo là "sản phẩm duy nhất có khả năng nhận diện trên 90% hình ảnh liên quan đến Pháp Luân Công", kết hợp mạng lưới camera giám sát trên toàn quốc.


- Đào tạo và Hỗ trợ Kỹ thuật Trực tiếp: Đội ngũ kỹ sư của Cisco tại San Jose trực tiếp quản lý, tối ưu hóa phần mềm và tổ chức các khóa huấn luyện kỹ thuật cho cán bộ Phòng 610 và cảnh sát Trung Quốc. Trong các tài liệu tiếp thị nội bộ, Cisco thậm chí sử dụng thuật ngữ "douzheng" (đấu tranh bạo lực) và miêu tả việc triệt hạ Pháp Luân Công là cơ hội kinh doanh vô cùng tiềm năng.


Nguồn: CourtListener


  • Vụ kiện của DOE V. CISCO và lá chắn pháp lý từ tòa án tối cao Hoa Kỳ (2026)


Năm 2011, các học viên Pháp Luân Công khởi kiện Cisco và hai lãnh đạo (CEO John Chambers và Phó Chủ tịch Fredy Cheung) theo Đạo luật Tra tấn Người nước ngoài (Alien Tort Statute - ATS) và Đạo luật Bảo vệ Nạn nhân Tra tấn (TVPA).


Mặc dù Tòa Phúc thẩm Khu vực 9 của Mỹ năm 2023 (73 F.4th 700) từng phán quyết đảo ngược quyết định bác bỏ của tòa sơ thẩm — khẳng định trách nhiệm tiếp tay (aiding and abetting) vi phạm nhân quyền của tập đoàn Cisco diễn ra ngay tại trụ sở California — vụ kiện đã bị dập tắt hoàn toàn ở cấp cao nhất.


Vào ngày 23 tháng 6 năm 2026, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã ra phán quyết với tỷ lệ 6-3 trong vụ Cisco Systems, Inc. v. Doe (609 U.S. 141), chính thức bác bỏ toàn bộ đơn kiện của các nạn nhân. Ý kiến đa số do Thẩm phán Amy Coney Barrett tuyên đọc khẳng định rằng các tòa án liên bang không có thẩm quyền tự tạo ra các nguyên nhân khởi kiện mới (causes of action) theo Đạo luật ATS đối với các vi phạm luật quốc tế, mà thẩm quyền này thuộc về Quốc hội. Tòa án Tối cao chính thức tuyên bố quyền tạo ra án lệ ATS từ thời Sosa v. Alvarez-Machain (2004) là không còn tồn tại đối với các vụ kiện loại này.


Tòa án Tối cao phán quyết rằng văn bản Đạo luật TVPA năm 1991 chỉ quy định trách nhiệm trực tiếp đối với cá nhân thực hiện hành vi tra tấn ("subjects an individual to torture"), hoàn toàn không bao gồm trách nhiệm tiếp tay hay hỗ trợ gián tiếp (aiding-and-abetting liability). Phán quyết này tạo ra một "lá chắn pháp lý" tuyệt đối cho các tập đoàn công nghệ Mỹ, đảm bảo rằng việc bán công nghệ giám sát hay hỗ trợ hạ tầng cho các chế độ độc tài sẽ không bị truy cứu trách nhiệm dân sự tại tòa án Mỹ.




Nguồn: TheGuardian


Trích dẫn một đoạn trong bài báo (đã dịch thô):


Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã thu hẹp thêm phạm vi áp dụng của một đạo luật liên bang vốn được sử dụng để buộc các tập đoàn phải chịu trách nhiệm về những vi phạm quyền con người ở nước ngoài, khi ra phán quyết vào hôm thứ Ba chấm dứt vụ kiện của các thành viên Pháp Luân Công cáo buộc Cisco Systems hỗ trợ việc đàn áp tôn giáo tại Trung Quốc. Các thẩm phán đã đảo ngược quyết định của tòa cấp dưới — phán quyết từng hồi sinh vụ kiện từ năm 2011 vốn được đệ trình theo Đạo luật Bồi thường cho Người nước ngoài (Alien Tort Statute) năm 1789. Vụ kiện cáo buộc Cisco cố tình phát triển công nghệ cho phép chính phủ Trung Quốc giám sát và đàn áp các thành viên Pháp Luân Công.
Đạo luật Bồi thường cho Người nước ngoài từng rơi vào trạng thái ngủ yên trong suốt gần hai thế kỷ trước khi các luật sư bắt đầu sử dụng nó vào những năm 1980 để đưa các vụ án nhân quyền quốc tế ra tòa án Mỹ. Vụ kiện Cisco đặt ra câu hỏi liệu đạo luật này có tạo ra trách nhiệm pháp lý đối với các tập đoàn "tiếp tay và hỗ trợ" cho các vi phạm nhân quyền hay không, một hình thức gọi là trách nhiệm đồng phạm. Đơn kiện cáo buộc Cisco (có trụ sở tại San Jose, California) đã cố tình thiết kế và triển khai "Đại Kim Khiên" (Golden Shield), một hệ thống giám sát internet được Đảng Cộng sản Trung Quốc sử dụng để nhắm vào các nhân vật bất đồng chính kiến. Các nguyên đơn cho biết Trung Quốc đã dùng hệ thống này để theo dõi và sau đó tra tấn các thành viên Pháp Luân Công.
Cisco gọi các cáo buộc này là vô căn cứ và mang tính xúc phạm.
Chính quyền của Donald Trump đã đứng về phía Cisco trong vụ kiện này.
Trong khi luôn miệng lên án chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa Cộng sản, nhưng Chính quyền của Donald Trump lại bảo vệ cho các tập đoàn của Mỹ trong việc làm ăn hỗ trợ cho các chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa đó để đàn áp người dân, từ đó giúp các tập đoàn này tránh được tội "tiếp tay hỗ trợ". Nói trên miệng thì hay những hành vi thì chưa chắc, có khi còn đi ngược hẳn lại. Đây chính là bản chất của chính khách Hoa Kỳ.
Trong khi luôn miệng lên án chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa Cộng sản, nhưng Chính quyền của Donald Trump lại bảo vệ cho các tập đoàn của Mỹ trong việc làm ăn hỗ trợ cho các chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa đó để đàn áp người dân, từ đó giúp các tập đoàn này tránh được tội "tiếp tay hỗ trợ". Nói trên miệng thì hay những hành vi thì chưa chắc, có khi còn đi ngược hẳn lại. Đây chính là bản chất của chính khách Hoa Kỳ.

  1. TRÒ TUNG HỨNG CỦA GIỚI LẬP PHÁP LƯỠNG ĐẢNG VÀ GAME SHOW CHÍNH TRỊ QUANH CUỘC BỨC HẠI HỌC VIÊN PHÁP LUÂN CÔNG


  • Sự Khác biệt giữa Nghị quyết Biểu trưng và Chế tài Thực chất (2000–2021)

Trong suốt hơn hai thập kỷ (2000–2021), Quốc hội và Chính phủ Mỹ liên tục đưa ra các tuyên bố mạnh mẽ phản đối việc đàn áp học viên Pháp Luân Công. Tuy nhiên, khi phân tích bản chất pháp lý, toàn bộ các động thái này chỉ dừng lại ở các Nghị quyết (Resolutions) mang tính biểu tượng, ví dụ:


- Nghị quyết Quốc hội Mỹ: H.Res. 217 (2002), H.Res. 304 (2004), H.Res. 605 (2010), và H.Res. 343 (2016) đều chứa đựng ngôn từ lên án gay gắt chiến dịch đàn áp và cưỡng bức thu hoạch nội tạng.


- Hạn chế pháp lý: Về mặt kỹ thuật lập pháp, các Nghị quyết của Hạ viện hay Thượng viện không phải là Luật (Public Laws). Chúng không có giá trị bắt buộc thi hành (kiểu chỉ lên án mồm cho có), không ủy quyền cho Bộ Tài chính đóng băng tài sản và không cho phép Bộ Ngoại giao hủy thị thực của các quan chức vi phạm.


Việc duy trì các Nghị quyết biểu tượng giúp các chính khách lưỡng đảng Mỹ đạt được hai mục đích song song: thể hiện hình ảnh "chống cộng" và "bảo vệ giá trị nhân quyền" trước cử tri trong các kỳ bầu cử để tranh thủ kiếm phiếu bầu, trong khi hoàn toàn không gây ảnh hưởng đến quan hệ thương mại hàng trăm tỷ USD giữa hai nước. Tức là nhiều khi các giới chức nghĩ sỹ lưỡng Đảng lên báo chí truyền thông nói tốt cho học viên - chỉ đơn giản là họ đang diễn để kiếm phiếu, chứ không chắc là họ thực sự nghĩ tốt cho học viên.


  • Chu kỳ 2 Năm Quốc hội và Động thái "Câu giờ" để không thông qua Đạo luật Bảo vệ Pháp Luân Công


Theo Hiến pháp Hoa Kỳ, mỗi khóa Quốc hội kéo dài đúng 2 năm. Mọi dự thảo luật (Bill) chưa được ký thành luật trước khi khóa Quốc hội kết thúc sẽ tự động hết hiệu lực. Nếu muốn tiếp tục, các nghị sĩ bắt buộc phải đệ trình lại dự luật đó từ đầu dưới một mã số mới ở khóa Quốc hội tiếp theo.


Quy định thủ tục này đã được giới chính trị Mỹ tận dụng để kéo dài tiến trình của Đạo luật Bảo vệ Pháp Luân Công (Falun Gong Protection Act) qua từng khóa Quốc hội, cụ thể:


- Khóa 117 (2021–2022): Dự luật được giới thiệu dưới mã số H.R. 6319. Khi nhiệm kỳ 2 năm của Quốc hội kết thúc mà chưa hoàn tất quy trình bỏ phiếu, dự luật tự động hết hiệu lực.


- Khóa 118 (2023–2024): Dự luật được tái đệ trình dưới mã số H.R. 4132. Mặc dù Hạ viện bỏ phiếu thông qua vào tháng 6/2024, dự luật tiếp tục bị tắc tại Thượng viện cho đến khi khóa 118 kết thúc và lại bị hủy bỏ theo thủ tục.


- Khóa 119 (2025–2026): Dự luật bắt buộc phải đệ trình lại từ đầu dưới mã số H.R. 1540 để khởi động lại toàn bộ quy trình xem xét tại các ủy ban.


Nội dung của Đạo luật Bảo vệ Pháp Luân Công (như bản H.R. 4132) quy định các chế tài trừng phạt thực chất:


  • Khóa tài sản (Section 3c1): Áp dụng Đạo luật Quyền lực Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế (IEEPA) để phong tỏa toàn bộ tài sản tại Mỹ của các cá nhân liên quan đến cưỡng bức thu hoạch nội tạng.

  • Cấm nhập cảnh và Hủy thị thực (Section 3c2): Tự động hủy thị thực và từ chối nhập cảnh đối với các quan chức có tên trong danh sách đen.

  • Báo cáo Atrocity (Section 4): Yêu cầu Bộ Ngoại giao đánh giá chính thức xem việc đàn áp Pháp Luân Công có cấu thành tội ác tàn bạo (atrocity) hay không.


Tuy nhiên, việc tận dụng chu kỳ 2 năm khiến dự luật liên tục bị đẩy vào vòng xoáy thủ tục: Hạ viện giả vờ thông qua để lấy tiếng với cử tri (bảo vệ nhân quyền), sau đó dự luật bị om tại Thượng viện cho đến khi khóa Quốc hội kết thúc. Khi khóa mới bắt đầu, dự luật lại được đệ trình lại để làm công cụ mặc cả chính trị mới, rồi lại Thượng viện thông qua rồi lại đá xuống cho Hạ Viện, rồi chờ khi hết nhiệm kỳ 2 năm quốc hội thì lại hủy. Đây đúng nghĩa là một gameshow chính trị.


  1. TÍNH 2 MẶT TRONG LỊCH SỬ CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO CỦA HOA KỲ


Xuyên suốt lịch sử cận đại, chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đã bộc lộ một sự mâu thuẫn sâu sắc giữa những tuyên bố hoa mỹ bên ngoài về "dân chủ", "nhân quyền" hay "hòa bình" và các hành động can thiệp âm thầm, tàn bạo trong thực tế. Các tài liệu lịch sử cho thấy bộ máy đối ngoại của Washington không vận hành dựa trên các chuẩn mực đạo đức; thay vào đó, mục tiêu tối thượng của họ là bảo vệ lợi ích kinh tế của các tập đoàn tư bản, duy trì các căn cứ quân sự chiến lược và củng cố vị thế thống trị toàn cầu.


Để thực hiện mục tiêu này, Mỹ không ngần ngại lật đổ các chính phủ dân chủ hợp hiến, hà hơi tiếp sức cho các chế độ độc tài đẫm máu, và thậm chí vô tình hay hữu ý tạo ra những khoảng trống quyền lực dẫn đến sự trỗi dậy của các thế lực cực đoan.


Có thể lấy những trường hợp như của Chile là một minh chứng điển hình cho việc Mỹ hủy hoại dân chủ để dựng lên một chế độ độc tài quân sự phục vụ lợi ích tư bản. Khi Tổng thống Salvador Allende đăng quang qua một cuộc bầu cử dân chủ năm 1970 với chương trình tái phân phối thu nhập và quốc hữu hóa các mỏ đồng vốn bị các tập đoàn Mỹ hút ròng hàng tỷ đô la, Tổng thống Richard Nixon và Henry Kissinger đã ra lệnh cho CIA "làm cho nền kinh tế Chile phải gào thét". Mỹ đã tiến hành chiến tranh tâm lý, chi tiền hối lộ các chính khách, tài trợ cho tờ báo bảo thủ El Mercurio và kích động các cuộc đình công làm tê liệt đất nước. Đến ngày 11 tháng 9 năm 1973, Mỹ hỗ trợ Tướng Augusto Pinochet đảo chính đẫm máu, dẫn đến cái chết của Allende và mở ra hàng thập kỷ đàn áp, hành quyết hàng ngàn người trong các cuộc vận động chính trị. Trong khi Washington tuyên truyền về "sự hồi sinh của Chile", họ đã rót hàng trăm triệu đô la viện trợ trực tiếp và tín dụng cho Pinochet để đảm bảo các tập đoàn Mỹ tha hồ thâu tóm tài sản quốc gia.


Tại Campuchia, sự can thiệp của Mỹ lại mang một bộ mặt dối trá khác dưới danh nghĩa "bảo vệ hòa bình" và "ngăn chặn cộng sản" nhưng thực chất đã đẩy một quốc gia trung lập vào thảm họa diệt chủng. Quốc vương Norodom Sihanouk đã kiên trì thực hiện chính sách trung lập để giữ Campuchia đứng ngoài cuộc chiến Việt Nam. Tuy nhiên, dưới thời Nixon và Kissinger, Mỹ đã phát động chiến dịch "Operation Menu" bí mật dùng pháo hạm B-52 rải thảm hàng trăm ngàn tấn bom xuống lãnh thổ Campuchia. Mỹ đã âm thầm làm giả các báo cáo quân sự và lừa dối Quốc hội trong nước lẫn công luận quốc tế rằng họ "hoàn toàn tôn trọng sự trung lập của Campuchia". Khi Tướng Lon Nol tiến hành đảo chính lật đổ Sihanouk vào năm 1970, Washington ngay lập tức ôm chồm lấy chính quyền Lon Nol thối nát, biến Campuchia thành phòng thí nghiệm cho sức mạnh không quân Mỹ nhằm phục vụ cho chiến lược rút quân của họ tại Việt Nam. Việc Mỹ ném bom tàn phá nông thôn đã làm hơn 500.000 người chết và biến hai triệu người thành mất nhà cửa, trực tiếp phá hủy cấu trúc xã hội yên bình và tạo ra một "địa ngục trần gian" mà từ đó lực lượng Khmer Đỏ cực đoan đã trỗi dậy thâu tóm quyền lực.


Tại Philippines, Mỹ đã duy trì một "mối tình nồng thắm" kéo dài hai thập kỷ với chế độ độc tài vợ chồng Ferdinand và Imelda Marcos qua năm đời Tổng thống Mỹ. Khi Marcos tuyên bố thiết lập thiết quân luật vào năm 1972 để hủy bỏ hiến pháp và kéo dài quyền lực, ông ta lấy cớ là để chống lại "phiến quân Mác-xít - Lê-nin-xít". Washington thừa biết mối đe dọa này bị phóng đại và Marcos thực chất đang vơ vét từ 5 đến 10 tỷ đô la của ngân khố quốc gia, nhưng Nixon và Kissinger vẫn làm ngơ và chấp nhận thiết quân luật vì Marcos cam kết bảo vệ các căn cứ quân sự chiến lược của Mỹ tại Clark và Subic, đồng thời đè nén giá nhân công Philippines xuống mức chết đói (chỉ 47 cent một giờ) để làm hài lòng các nhà đầu tư Mỹ. Các Lãnh đạo Mỹ công khai nâng ly chúc mừng Marcos về "sự trung thành với các nguyên tắc dân chủ" và "sự chăm lo cho dinh dưỡng nhân dân", trong khi trẻ em Philippines chết đói còn Bà Imelda thì thu tiền "quyên góp" hàng trăm ngàn đô la của các doanh nhân và bỏ túi hàng triệu đô la tiền lót tay từ dự án nhà máy điện hạt nhân Westinghouse do Ngân hàng Xuất nhập khẩu Mỹ tài trợ.

__________



Có thể nói rằng, hình ảnh về Hoa Kỳ không hề "màu hồng" như chúng ta tưởng, chúng ta thường mặc định các Chính trị gia lưỡng Đảng ở Hoa Kỳ là đang chiến đấu vì tự do, vì nhân quyền, họ đang chống lại chủ nghĩa cộng sản, nhưng cứ nhìn hành vi thực tế của họ thì dường như ngược lại. Lịch sử đã chứng minh - Chính giới chức Hoa Kỳ đã góp phần lớn công sức để tạo ra các thể chế Cộng sản và độc tài.


Đừng nghĩ rằng ở Hoa Kỳ, các chính trị gia nói tốt cho học viên chúng ta thì tương đương là họ thực sự nghĩ tốt về Đại Pháp, có thể họ nhiều khi chỉ diễn như vậy chỉ để tạo hình ảnh kiếm phiếu bầu từ cử tri - và họ cũng sẽ đi nói tốt cho các bộ phận tín ngưỡng bị đàn áp khác tương tự như với học viên, nhưng khi họ lên nắm quyền, giữ ghế thì rất nhiều khi lại hành xử ngược lại. Tất nhiên, không có ý nói rằng toàn bộ giới chức Hoa Kỳ đều như vậy, cũng vẫn còn những người thực sự chính trực trong bộ máy chính quyền Hoa Kỳ, nhưng dưới guồng quay của bộ máy đó thì họ nhiều khi cũng lực bất tòng tâm.


Tôi nhớ đại ý Sư Phụ trong bài giảng tại Washington DC 2018 đã nói rất rõ là:


  • Chúng ta không tham gia bất kỳ chính trị gì của người thường, nhưng chúng ta tuyệt đối không được nói dối. Những kênh thông tin của học viên làm thì không phao tin đồn, lăng xê ai lên, nói tốt cho ai, chỉ đưa tin chính xác. .... Chúng ta không tham dự chính trị, đảng phái nào thì cũng đều cứu. Chúng ta không có quan điểm chính trị và sự việc giữa các đảng phái với nhau thì học viên nhất quyết không được tham dự vào.


[Hết]


Vào những năm 2003 thì rộ lên hiện tượng học viên đề xuất lên Liên Hiệp Quốc về vấn đề bức hại của Trung Cộng nhưng bị gạt đi, rồi ngay cả Mỹ đề xuất thì cũng bị phủ quyết. Có nhiều học viên thực sự đã nghĩ rằng "Tại sao Mỹ không tìm cách đánh đổ cái chế độ lưu manh Trung Cộng đó đi?", "Các quốc gia dân chủ khắp thế giới tại sao không lên tiếng, Liên Hiệp Quốc sao không lên tiếng?" v..v


Những hiện tượng như vậy, tôi nhớ đại ý Sư phụ có giảng trong kinh văn « Giảng Pháp tại Pháp hội miền trung Mỹ quốc năm 2003 »:


  • Nếu như cuộc bức hại này để con người kết thúc, thì đệ tử Đại Pháp mất mặt đến nhường nào — chúng ta đã không chứng thực Pháp cũng không từ trong bức hại mà gây dựng uy đức, các đệ tử Đại Pháp đã không đi theo con đường của mình — con đường ấy là để lưu lại cho tương lai. Do vậy cựu thế lực bèn dùi vào kẽ hở. Học viên hy vọng vào người thường, cựu thế lực liền làm cho đề án của người kia bị phủ quyết; vẫn hy vọng vào người thường, chúng liền làm cho đề án của người kia không đề xuất được nữa; vẫn hy vọng vào người thường, chúng liền để cho cái ghế chủ tịch cho một chính quyền bức hại nhân quyền lên ngồi. Qua giáo huấn này học viên cần lý trí hơn nữa; học viên đã nếm trải quá nhiều rồi.


[Hết]


Tôi hiểu chúng ta có thể lợi dụng vấn đề dự luật bảo vệ học viên Pháp Luân Công hay sự lên tiếng của các giới chức chính quyền Mỹ để làm dung môi/hoàn cảnh để giảng chân tướng cho người dân ở Hoa Kỳ hay quốc tế nói chung, nhưng nếu hy vọng rằng chính quyền Mỹ hay ông chính trị gia nào đó sẽ thực sự công chính đi dẹp các quốc gia độc tài thì điều đó là không bao giờ có, đây có lẽ cũng là chốt chặn được Cựu thế lực an bài từ rất lâu trong lịch sử rồi - để đảm bảo sàn diễn chính bắt buộc phải do học viên tự lên gánh vác. Hệ thống giới chức chính trị gia lưỡng Đảng tại Mỹ thực sự không hề đơn giản như cái nhìn bề mặt hay qua những gì họ nói trên truyền thông trước cử tri. Học viên nếu chấp trước không bỏ, vẫn ỷ lại vào giới chức Hoa Kỳ thì có thể thậm chí trở thành con cờ (lợi dụng các kênh truyền thông của học viên làm tay sai PR miễn phí cho các chính trị gia) bị lưỡng Đảng lợi dụng trong cuộc đấu tranh phe phái và làm con tốt thí để mặc cả ngoại giao lợi ích với Trung Quốc, sau khi hết giá trị sử dụng thì liền bị vứt xó không thương tiếc.


Mức sống cao, trật tự pháp quyền và quyền tự do dân sự tại nội địa Hoa Kỳ thực tế lại song hành với sự bất ổn ở bên ngoài. Nhà xã hội học Immanuel Wallerstein chứng minh rằng nền kinh tế tư bản toàn cầu vận hành dựa trên việc quốc gia trung tâm (Core) chiết xuất tài nguyên, nhân công giá rẻ và dư thừa vốn từ vùng ngoại vi (Periphery). Để trung tâm duy trì sự đồng thuận xã hội, hòa bình nội địa và mức tiêu dùng cao mà không xảy ra xung đột giai cấp trong nước, các chi phí góc tối — như ô nhiễm môi trường, bóc lột lao động và xung đột bạo lực, chiến tranh v..v — phải được đẩy ra xa khỏi tầm mắt của cử tri nội địa.


VD: Hoa Kỳ phát động cuộc chiến năm 2003 với tuyên bố biểu tượng (tạo cái cớ bốc phét ra hoặc tự ngụy tạo) là "lật đổ chế độ độc tài", "tìm kiếm vũ khí hủy diệt hàng loạt" và "mang lại dân chủ cho Iraq".


Sau vụ khủng bố 11/9/2001, chính quyền George W. Bush bắt đầu đẩy mạnh luận điểm rằng Iraq là một “mối đe dọa ngày càng lớn” vì bị cho là đang theo đuổi vũ khí hủy diệt hàng loạt và có liên hệ với khủng bố. Trong các phát biểu năm 2002, Nhà Trắng nhiều lần đặt Iraq vào trung tâm của nỗi sợ an ninh toàn cầu, biến hồ sơ Iraq từ một vấn đề thanh sát quốc tế thành một lý do cấp bách cho hành động quân sự.


Đỉnh điểm của chiến dịch thuyết phục ấy là ngày 5/2/2003, khi Ngoại trưởng Mỹ Colin Powell phát biểu tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Tại đây, ông giơ lên một lọ nhỏ chứa bột trắng như đạo cụ minh họa anthrax. Cần nói cho thật rõ: đó không phải là mẫu anthrax thật lấy từ Iraq, mà là một vật minh họa để người nghe hình dung rằng chỉ một lượng rất nhỏ tác nhân sinh học cũng có thể gây hậu quả lớn. Từ hình ảnh trực quan đó, Powell củng cố cáo buộc rằng chính quyền Saddam Hussein đang che giấu chương trình vũ khí sinh học và các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt khác.


Nhưng trong khi Washington trình bày mối đe dọa như một sự thật gần như chắc chắn, các thanh sát viên Liên Hợp Quốc lại thận trọng hơn nhiều. Hans Blix, người đứng đầu UNMOVIC, báo cáo rằng Iraq còn nhiều điểm chưa giải trình, nhưng đến trước khi đoàn thanh sát rút đi vào giữa tháng 3/2003, họ không tìm thấy bằng chứng cho thấy Iraq đã tiếp tục hay khôi phục các chương trình vũ khí hủy diệt hàng loạt bị cấm. Nói cách khác, hồ sơ được dùng để tạo sức ép cho chiến tranh không hề vững chắc như cách nó được trình bày trước dư luận thế giới.


Dù vậy, chỉ hai tuần sau bài phát biểu của Powell, Mỹ và Anh vẫn phát động cuộc chiến Iraq vào tháng 3/2003. Nhiều năm sau, Iraq Inquiry của Anh kết luận rằng mối đe dọa từ Iraq đã được trình bày với một mức độ chắc chắn “không được biện minh”, và rằng các lựa chọn hòa bình khi ấy chưa cạn kiệt. Điều đó khiến bài phát biểu ngày 5/2/2003 ngày càng được nhìn nhận không phải như một khoảnh khắc “vạch trần sự thật”, mà như một bước then chốt trong quá trình hợp thức hóa một quyết định chiến tranh đã được thúc đẩy từ trước.


Sau khi Iraq bị xâm lược và chiếm đóng, các cuộc điều tra hậu chiến lại cho kết quả trái ngược với những gì công chúng từng được nghe. Duelfer Report kết luận Iraq không có các kho vũ khí hủy diệt hàng loạt đang hoạt động như các cáo buộc tiền chiến. Chính Colin Powell về sau cũng thừa nhận bài phát biểu ấy là một “vết nhơ” trong hồ sơ của mình và nói rằng ký ức về nó vẫn rất đau đớn.


Ngoại trưởng Mỹ Colin Powell phát biểu tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Tại đây, ông giơ lên một lọ nhỏ chứa bột trắng như đạo cụ minh họa anthrax. Từ hình ảnh trực quan đó, Powell củng cố cáo buộc rằng chính quyền Saddam Hussein đang che giấu chương trình vũ khí sinh học và các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt khác.
Ngoại trưởng Mỹ Colin Powell phát biểu tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Tại đây, ông giơ lên một lọ nhỏ chứa bột trắng như đạo cụ minh họa anthrax. Từ hình ảnh trực quan đó, Powell củng cố cáo buộc rằng chính quyền Saddam Hussein đang che giấu chương trình vũ khí sinh học và các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt khác.

Cuộc chiến khiến hàng trăm nghìn dân thường Iraq thiệt mạng, hạ tầng quốc gia bị phá hủy, tạo ra khoảng trống quyền lực dẫn đến sự trỗi dậy của các nhóm cực đoan (như IS) và đẩy khu vực Trung Đông vào chuỗi khủng hoảng kéo dài hàng thập kỷ.


Các tập đoàn năng lượng Mỹ (như ExxonMobil, Chevron) và các tập đoàn hầu cần/quân sự (như Halliburton) thu về hàng chục tỷ USD từ các hợp đồng tái thiết và khai thác dầu mông quạnh. Việc kiểm soát nguồn dầu mỏ Trung Đông giúp Hoa Kỳ duy trì thế bá chủ của đồng Petrodollar, qua đó bảo đảm khả năng nhập khẩu hàng hóa giá rẻ, duy trì mức tiêu dùng cao và lạm phát thấp cho cử tri nội địa Mỹ. Những lời hứa dân chủ chỉ là biểu tượng. Sự ổn định kinh tế và mức sống cao của cử tri Mỹ được trả giá bằng sự bất ổn, chiến tranh và máu của người dân Iraq.


Trong suốt giai đoạn Chiến tranh Việt Nam, các tập đoàn quốc phòng khổng lồ của Mỹ như Lockheed, Boeing, General Dynamics, Dow Chemical (sản xuất chất độc da cam/chất phát quang và bom napalm) liên tục nhận các hợp đồng béo bở trị giá hàng chục tỷ USD từ Lầu Năm Góc. Việc duy trì sản xuất vũ khí quy mô lớn giúp tạo ra hàng triệu việc làm nội địa, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, duy trì sự thịnh vượng và mức sống cao cho tầng lớp trung lưu Mỹ trong thập niên 1960. Việt Nam trở thành "bãi thử nghiệm" cho các loại công nghệ quân sự và vũ khí hủy diệt mới (bom đạn chùm, chất độc hóa học, napalm). Chi phí "góc tối" mà người dân Việt Nam phải gánh chịu là hàng triệu người thiệt mạng, hạ tầng bị phá hủy hoàn toàn, và di chứng chất độc da cam kéo dài qua nhiều thế hệ cho đến tận ngày nay.


Trong các chiến dịch bí mật tại khu vực Tam giác Vàng (bao gồm vùng biên giới Lào, Thái Lan và Việt Nam), lực lượng CIA của Mỹ đã hợp tác với các phiến quân bản địa (như quân Hmong do Vang Pao chỉ huy) và một số quan chức tham nhũng của chính quyền Sài Gòn để chống lại lực lượng cộng sản. Để tài trợ cho các lực lượng ủy nhiệm này mà không cần xin ngân sách từ Quốc hội Mỹ (tránh sự giám sát của cử tri nội địa), CIA thông qua hãng hàng không tư nhân Air America đã làm lơ, thậm chí hỗ trợ vận chuyển thuốc phiện và heroin từ vùng núi Tam giác Vàng về các đô thị miền Nam Việt Nam.


Mạng lưới này làm bùng nổ nạn nghiện ngập heroin tại miền Nam Việt Nam, gieo rắc sự băng hoại xã hội và tội phạm tại các đô thị như Sài Gòn, Đà Nẵng. Thậm chí, một phần lượng heroin này sau đó đã quay ngược trở lại làm tha hóa hàng chục nghìn binh lính Mỹ đang chiến đấu tại chiến trường Việt Nam.


Để nói rằng, cuộc sống tự do, tiêu dùng thịnh vượng và trật tự hiến định tại Hoa Kỳ thực chất là đang được chống đỡ bởi một cỗ máy kinh tế - địa chính trị toàn cầu: nơi tổn thất nhân quyền được đẩy ra bên ngoài , lợi nhuận của các tập đoàn Mỹ dù cho có sử dụng phương pháp tội ác để thâu tóm thì cũng sẽ được bảo vệ bởi tòa án nội địa, và những lời hứa hẹn dân chủ chỉ dừng lại ở các tuyên bố biểu tượng. Sự yên bình, dân chủ ở Hoa Kỳ, do đó, luôn được đánh đổi bằng chính máu và nước mắt của những con người ở các quốc gia thuộc vùng ngoại vi địa chính trị.


Moitruongphapluancongvn.org © 2017-2026

​

Mọi thông tin trên website này chỉ có giá trị tham khảo cho học viên Pháp Luân Công tại Việt Nam, là thể hiện quan điểm, nhìn nhận của chúng tôi dựa trên thể ngộ tại tầng sở tại còn nông cạn (Đại Pháp còn rất nhiều nội hàm cao thâm hơn nữa) cùng với quá trình quan sát và tiếp xúc trực tiếp với môi trường tu luyện, được phân tích và tổng hợp từ nhiều kênh. Các học viên tất nhiên phải lấy Đại Pháp mà Sư Phụ Lý Hồng Chí giảng làm thầy và lấy sự tự mình thực tu dựa trên sự chỉ đạo của Đại Pháp để đề cao tâm tính và chứng thực Pháp chứ không phải lấy những gì trên Website này làm chỉ đạo. Các thông tin trên Website này theo chúng tôi thấy thì chỉ có tính khuyến nghị, cảnh báo các hành vi lừa đảo, phá hoại Đại Pháp và tham khảo về thực trạng môi trường tu luyện hiện nay để học viên nâng cao nhận thức, từ đó tự học viên dần hình thành cho mình khả năng tư duy để có thể suy xét một cách lý trí xem điều gì nên và không nên làm, Website này tuyệt đối không có mục đích định hướng dẫn dắt ai hết. Mỗi học viên cần tự quyết định con đường tu luyện của chính mình dựa trên sự chỉ đạo của Đại Pháp. Khuyến nghị học viên nên ghi rõ nguồn website này khi trích dẫn hay đăng ở các nơi khác phòng trường hợp có sự thay đổi, bổ sung về nội dung bài viết trong tương lai. Mọi ý kiến thắc mắc hay góp ý xin gửi vào mục Liên Hệ ở đầu Website.

© Copyright
bottom of page